Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn Cực hay. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cực hay. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 31 tháng 8, 2016

The Growth-Sự Trưởng Thành.

Về Cây Mojuk và Sự Trưởng Thành.
Một bài viết cũ của Giáo sư Kim Rando, chia sẻ với các bạn đang ở “giai đoạn mà dường như có cố gắng mấy thì mọi thứ vẫn dậm chân tại chỗ.”:
1. Điều thú vị nhất trong cuộc đời - đối với tất cả mọi người: The Growth - Sự phát triển
Trên đời mỗi người có thể yêu thích và thậm chí, "nghiện" một thứ nào đó như: game, phim, truyện tranh và một số thứ tệ hơn thế.
Nhưng tất cả mọi người đều "nghiện" cùng một thứ, đó là "GROWTH" - "sự trưởng thành", hay "sự phát triển".
Thật không nhỉ? Bằng chứng là gì?
- Các nhà sản xuất game đã chỉ ra những yếu tố quan trọng nhất để tạo nên một game hay, hấp dẫn và khiến người ta say mê nghiện ngập đến quên ăn quên ngủ, bao gồm: Mạch chuyện hay, đồ họa đẹp, nhân vật kỳ diệu, âm nhạc hấp dẫn, gameplay tốt.v.v...
Nhưng quan trọng nhất là: sự phát triển, sự trưởng thành của nhân vật trong game.
Các nhà làm game sẽ phải làm sao để đảm bảo rằng, người chơi càng chơi lâu, chơi nhiều thì họ càng thấy được những bước tiến của mình trong game: có thêm nhiều "đồ", nhân vật càng ngày càng mạnh hơn, lên level, các hệ thống chơi ngày càng phức tạp hơn, và cảm giác thỏa mãn một khi hoàn thành một nhiệm vụ, vượt qua một cấp mới, lên một bậc mới.v.v.
- Các bộ phim bao giờ cũng là câu chuyện về sự trưởng thành của nhân vật chính:
Nếu là chuyện tình, chàng và nàng bắt đầu là những người xa lạ, thậm chí ghét nhau, rồi dần dần thích nhau, rồi yêu nhau, rồi bị ngăn cản, rồi cùng chiến đấu vượt qua, rồi dành thắng lợi và vượt lên mọi nghịch cảnh để đến bên nhau, chứng tỏ đang có sự phát triển trong mối quan hệ của họ.
Nếu là phim hành động, nhân vật trẻ ngờ nghệch hoặc trẻ con hoặc yếu đuối hoặc hiếu thắng, qua nhiều thử thách và giành lấy thành công, trưởng thành lên và sẽ gặt hái được nhiều thứ xứng đáng hơn.
Cho nên, thứ con người thực sự nghiện là "sự trưởng thành".
Nếu là một mối quan hệ thì phải phát triển, phải có những bước tiến, phải có sự thay đổi, nếu không nó sẽ chết dần. Bảo sao người ta luôn nghiện cái giai đoạn "khám phá và tìm hiểu" hơn là khi mối quan hệ đã đi vào ổn định.
Một lớp học hấp dẫn nhất với học sinh là lớp học mà sau khi học xong, chúng thấy mình biết thêm rõ là nhiều thứ mới và bổ ích. Bất kỳ đứa trẻ nào cũng mong một lớp học "có ích" thực sự. Chứ không phải lớp học mà giáo viên cố pha trò làm vui lòng lũ trẻ.
Một cuốn sách hấp dẫn nhất với người đọc là cuốn sách mà sau khi đọc xong, họ cảm thấy được mở mắt, được sáng tỏ, được giỏi giang và phát triển hơn ở một khía cạnh nào đó.
Con người ta khao khát, và mong muốn thấy sự phát triển của chính bản thân mình, nếu không sẽ bắt đầu nản. Và vì sự phát triển trong cuộc sống thì vô cùng khó khăn, cho nên rất nhiều người chìm đắm vào những "sự trưởng thành" giả như game, phim ảnh, hoặc thậm chí, ma túy.
Vậy nên, điều quan trọng nhất trong cuộc sống, là phải luôn làm cho mình trưởng thành lên, mỗi mối quan hệ của mình cũng phải phát triển, các kỹ năng nhuần nhuyễn thêm, các kiến thức nhiều thêm, mọi thứ phải luôn vận động và thay đổi.
2. Thang cuốn tự động và những bậc thang đá
Nhưng trong lúc đi tìm sự tiến lên ấy, đa phần mọi người sẽ cố tìm những chiếc "thang cuốn tự động" - như trong các trung tâm thương mại, nơi chỉ cần tìm được đến thang cuốn, bước lên bậc đầu tiên của thang, thế là nó sẽ đưa mình đến nơi mình muốn đến.
Cuộc đời không có "thang cuốn tự động". Không có gì đảm bảo chắc chắn bạn sẽ đến được nơi bạn muốn đến. Không phải "kinh doanh", không phải "nghề luật sư", không phải "nghề ngân hàng", không phải "bất động sản". Không có gì là dễ dàng, đơn giản, và "chắc chắn thành công". Tất cả đều là thang bộ và sau khi bước vào cầu thang đó, bạn vẫn sẽ phải bước tiếp. Rồi bước tiếp nữa. Rồi lại bước tiếp nữa. Lắm khi mệt đứt cả hơi. Có khi còn ngã cái uỵch. Nhưng phải bước thì mới mong đến được nơi cần đến.
3. Cây Mojuk và nước sôi
Mojuk là một loại tre sống ở Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản, có lông tơ mọc khắp thân mình. Một cây mojuk trưởng thành có thể cao tới 24-26m, và là một trong những loại cây cao nhất thế giới.
Thế nhưng Mojuk mất đến 5 năm - chỉ là măng thấp bé. Suốt 5 năm trời, mojuk không mọc thêm một chút nào, và bất cứ ai nhìn vào cũng có thể nghĩ "nó chỉ được như vậy thôi", và cho rằng đó là giới hạn của nó. Nhưng sau 5 năm, mojuk đột nhiên sẽ cao lên với tốc độ khủng khiếp, 70-80cm/ngày, và chỉ trong vài tuần, sẽ trở thành loại cây cao nhất thế giới.
Đun nước cũng vậy. Khi nước ở nhiệt độ bình thường, bạn cứ cấp thêm nhiệt thì nhiệt độ của nước cũng sẽ tăng thêm đều đặn. Đến 100 độ C, thì dù có cấp thêm nhiệt bao nhiêu, nhiệt độ cũng sẽ không thay đổi nữa. Nó sẽ cứ dừng lại ở mức 100 độ. Người ta nhìn vào có thể sẽ nghĩ "đó là nhiệt độ tối đa rồi", và dừng cấp nhiệt, khiến cho nhiệt độ giảm xuống dần. Nhưng chỉ cần cứ tiếp tục đun, cho đến khi nước chuyển thành hơi nước hết, thì khi đó, nhiệt độ có thể lên đến 1000-2000 độ, chứ không chỉ còn là 100 độ nữa.
Cuộc đời một con người cũng thế. Sẽ có những giai đoạn mà dường như có cố gắng mấy thì mọi thứ vẫn dậm chân tại chỗ.
Không làm được gì mới, không có bước tiến nào đáng kể. Người ta có thể nghĩ "mình chỉ làm được đến thế thôi" và bỏ cuộc. Nhưng cứ tiếp tục cố gắng, thì sẽ đến một lúc nhìn lại và nhận ra mình đã có bước tiến nhảy vọt, mình đã lên một mức mới cao hơn so với trước kia rất nhiều. Cuộc đời là những bậc thang như thế. Không phải là một đường thẳng tuyến tính, khi mà thành quả tỉ lệ thuận với công sức và thời gian bỏ ra.
Có những lúc, phải bỏ ra thêm 5- 10 nỗ lực và thời gian, dường như chẳng để làm gì. Mà như đã nói, con người nghiện sự phát triển. Cho nên khi không thấy sự phát triển, người ta sẽ nản. Nhưng chỉ cần không nản, thì sẽ có lúc mình đạt được gấp trăm lần, thậm chí ngoài sức tưởng tượng.
4. Đồng hồ của bạn chỉ mấy giờ?
Nếu cả cuộc đời bạn là 24 tiếng của một ngày, vậy bạn đang ở mấy giờ?
Tính trung bình tuổi thọ người dân Hàn Quốc bây giờ là 80 tuổi, GS Kim Rando tính đơn giản thế này: 1 tuổi = 18 phút.
Vậy nếu bạn 10 tuổi, bạn đang ở 3h sáng.
Nếu bạn 20 tuổi, bạn đang ở 6h sáng.
Nếu bạn 30 tuổi, bạn đang ở 9h sáng.
Nếu bạn 40 tuổi, bạn đang ở 12h sáng.
Lúc 6h sáng, bạn có thể còn chưa kịp ngủ dậy. Ai chăm chắc đang tập thể dục. Có thể đánh răng và rửa mặt.
Lúc 9h sáng, công việc có thể mới bắt đầu, còn 1 tỉ thứ phải giải quyết, và ngày hôm ấy thành công hay không chưa thể biết được.
Lúc 12h sáng, bạn chuẩn bị ăn trưa, nghỉ giữa hiệp. Mới có 1 nửa ngày trôi qua mà thôi.
Cho nên đừng vội. Và đừng hoảng hốt khi bạn gặp rắc rối vào lúc 6h sáng, 9h sáng, hay thậm chí 12h trưa. Cho đến thời điểm ấy, bạn vẫn chưa làm được gì cũng không có nghĩa cả ngày là vứt đi cả.
Tiến chậm cũng không sao. Miễn không dừng lại là được.
5. Bench-marking và Self-marking
Bench-marking là từ để chỉ việc một cá nhân, một công ty muốn đạt được những thành công mà cá nhân, hoặc công ty khác đã đạt được, bởi vậy tìm cách học hỏi và bắt chước những điều mà cá nhân hoặc công ty kia đã làm.
Việc này rất phổ biến, và thực ra là tốt cho sự phát triển.
Thế nhưng, vấn đề là chúng ta phải học tập theo ai. Ví dụ, bạn muốn thành công như Steve Jobs, hãy học theo và làm theo những điều ông làm.
Nhưng thường thì, người ta lại không bench-marking những người mà chúng ta cần phải học theo - những người chúng ta phải vươn đến, mà lại bench-marking những người bạn của mình, những người cùng tầm tuổi với mình, cùng "loại" với mình, nhưng có gì đó nhỉnh hơn mình một chút.
Ví như cậu học sinh thấy những bạn/người hơn mình vài tuổi đua nhau chọn trường này, có vẻ sang chảnh, nên cũng phải cố mà bắt chước. Thấy bạn mình thi loại bằng này, tham gia hoạt động kia, cũng phải cố làm theo. Bố mẹ cũng thường khoái chuyện khuyên bảo con mình theo gương "con nhà người ta". Hỏng bét.
Giống như người ăn xin ngoài đường, lẽ ra ông ta phải ghen tị và học hỏi theo những ông chủ của tòa nhà cao tầng trước mặt, những người đã cho ông ta tiền, đi xe sang, mặc quần áo đẹp. Nhưng không, ông ta sẽ ghen tị và học theo gã ăn mày ngồi bên cạnh - người xin được hơn ông ta 100 nghìn đồng.
Cho nên GS Kim Rando tạo ra khái niệm self-marking. Có nghĩa là học theo, làm theo chính bản thân mình - của 20 năm nữa. Đi theo chính hình ảnh con người mà mình muốn trở thành ở tuổi 30, 40, 50, chứ không phải theo bất kỳ ai khác cả. Như vậy gọi là self-marking.
Đừng so sánh mình với người bằng tuổi xung quanh, hãy so sánh mình với chính con người mình muốn vươn đến.
6. Con vịt, đại bàng và hình chữ T
Vịt là loài vừa biết bơi dưới nước, vừa biết đi bộ trên bờ, và nếu muốn, lại còn có thể bay một chút nữa.
Nhưng nếu ông chủ muốn thuê một nhân viên biết bay, ông sẽ thuê đại bàng, không thuê vịt.
Nếu ông chủ muốn thuê một nhân viên biết bơi, ông sẽ thuê cá heo, không thuê vịt.
Nếu ông chủ muốn thuê một nhân viên biết đi trên mặt đất, ông sẽ thuê ngựa, không thuê vịt.
Đại bàng không bơi được, cũng chẳng đi bộ được. Nhưng về bay, nó là số 1.
Cho nên GS Kim Rando khuyên rằng, nên là đại bàng, chứ đừng nên là vịt.
Tuy nhiên, nếu vịt là dạng phát triển bề nổi, chiều ngang , và đại bàng là phát triển tập trung, chiều sâu thì ông cho rằng, mô hình lý tưởng nhất là hình chữ T. Có nghĩa là có bề ngang đủ rộng ở nhiều lĩnh vực nhưng có riêng 1 lĩnh vực thế mạnh phát triển thật sâu.
Và khi người ta còn trẻ, người ta nên tập trung phát triển chiều sâu trước, sâu nhất có thể. Rồi đến khi đi làm, trong các môi trường làm việc, tiếp xúc, người ta sẽ học được nhiều thứ để phát triển chiều ngang của mình. Còn nếu chưa gì đã phát triển chiều ngang, thì ở những năm tiếp theo của cuộc đời, ở lứa tuổi lớn hơn, sẽ rất khó để phát triển chiều sâu trở lại.
6. Cuộc đời, mê cung và những dead-end
Có bạn hỏi: So sánh cuộc đời như bậc thang bộ, chứ không phải như thang cuốn quả là đúng. Nhưng người ta còn nói, cuộc đời giống mê cung. Sẽ ra sao nếu sau rất nhiều nỗ lực, rất nhiều cố gắng, bạn bỗng nhận ra - đó không phải là con đường mình muốn đi, cần đi? Sẽ ra sao nếu chúng ta bỗng nhận thấy mình đang ở đường cụt, và bế tắc?
GS trả lời: "Tôi đồng ý rằng, cuộc đời giống như một mê cung vậy, nhưng tôi có thể đảm bảo với bạn một điều rằng, trong cuộc đời, chắc chắn không có cái gì gọi là "dead-end". Không bao giờ có một nơi gọi là đường cùng, chắc chắn sẽ luôn có lối thoát."
"Vào năm tôi 25 tuổi, tôi trượt một kỳ thi quan trọng đến 4 lần. Tôi học giỏi hơn các bạn tôi, thế mà các bạn tôi thì đỗ, còn tôi thì trượt, 4 lần. Cũng năm đó, bố tôi qua đời. Và tôi không còn một cơ hội nào để có thể tiếp tục theo đuổi việc nghiên cứu và vượt qua kỳ thi đó nữa. Bây giờ tôi có thể kể lại khá dễ dàng, nhưng vào thời điểm đó, tôi cảm thấy mình lâm vào đường cùng, và suýt chút nữa đã tự tử."
"Cuối cùng thì, tôi quyết định rẽ hướng, trở thành một giảng viên ở trường, bỏ tất cả mọi thứ để làm lại, học lại từ đầu. Trong cuộc đời tôi, đã có vài lần như thế, khi mà tôi dường như lâm phải đường cùng, và phải chọn bỏ lại tất cả để làm lại từ đầu."
"Nhưng giờ đây, ở tuổi 52, khi tôi gặp lại những người bạn cũ - những người đã vượt qua kỳ thi mà tôi bị trượt năm ấy. Tất cả họ lại quay ra ngưỡng mộ tôi, và nói với tôi rằng 'Ước gì năm ấy tôi cũng trượt như ông.' Cho nên hãy tin tôi, rằng không có nơi nào là đường cùng hết".


Nguồn bài viết tại đây.

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

Ngồi nhiều, chết sớm

“Sitting can kill you! - Ngồi có thể giết bạn!” Đó là kết luận đồng thuận của rất nhiều nghiên cứu khoa học. Mới nhất là nghiên cứu của Bác Sĩ Hidde Van Der Ploeg thuộc trường đại học University of Sydney, đăng trên Archives of Internal Medicine vào Tháng Tư, 2012. Sau khi theo dõi và khảo sát 200,000 người tình nguyện trong vòng nhiều năm, ông và các đồng nghiệp nhận xét, những người ngồi trên 11 giờ mỗi ngày, khả năng đột quỵ tử vong trong vòng 3 năm tăng 4% so với những người ngồi dưới 4 tiếng.
Tuy nhiên chả cần nghiên cứu gì dài dòng, các cụ ta từ ngàn xưa đã phát biểu một thành ngữ rất tự nhiên: “Đi, đứng, nằm, ngồi” theo thứ tự đó mà sống, và sống lâu.
Ấy là chuyện ngày xưa. Bước vào thế kỷ 21, so với tổ tiên chúng ta, con người hiện đại dường như ai cũng có một thói quen chung, thích ngồi. Ngồi một chỗ ngày nay có ảnh hưởng tai hại như hút thuốc lá. Nghiên cứu trên còn cho thấy, những người ngồi trên 6 giờ một ngày, khả năng chết sớm trong vòng 15 năm tăng lên 40% so với những người chỉ ngồi 3 tiếng cho dù có tập thể dục, thể thao, chế độ ăn uống tốt
Ngồi có tác hại như thế nào?
Khi bạn “an tọa” trên một tiếng đồng hồ, hệ thống điện từ não bộ kích hoạt các cơ bắp từ vùng xương chậu xuống hai chân dưới, hoàn toàn ngưng hoạt động. “Sướng nhỉ! Thoải mái nhỉ!”. Cơ thể của bạn ngừng tiêu thụ năng lượng, calories, vì khả năng đốt mỡ (fat) giảm đi khoảng 90%, lượng cholesterol tốt HDL giảm đi 20%, lượng mỡ triglycerides tăng vọt, và nguy cơ bị bệnh tiểu đường tăng lên 24%.
Một bệnh nhân của tôi đưa ra một nhận xét rất lý thú, ở Mỹ, có hai nghề chính: “nghề đứng và nghề ngồi”.
Hãy nói về nghề ngồi của một người làm việc văn phòng. Người ấy sẽ ngồi ăn sáng, ngồi uống cà phê, ngồi lái xe đi làm “chiến đấu” với nạn kẹt xe đô thị, ngồi làm việc, ngồi ăn trưa, có khi còn ngồi hút thuốc lá, rồi lại ngồi làm việc cho tới giờ tan sở, ngồi lái xe về nhà lại “đánh lộn” với những người lái xe ẩu, lại kẹt xe. Về nhà, ngồi đọc báo hay “ngồi computer” leo lên mạng, ngồi ăn tối, ngồi coi ti vi, lại “ngồi computer” đọc e-mail, đi ngủ để ngày hôm sau lại… ngồi.
Nghiên cứu cho thấy, những người có nghề ngồi, tỉ số bị bệnh tim mạch tăng gấp đôi so với người có nghề đứng. Tệ hơn, cho dù, bạn cố chèn vào một ngày bận bịu với 30 phút thể dục buổi sáng, hay một giờ chạy bộ sau ngày làm việc, vẫn không làm suy giảm những tác hại trong ngày do “ngồi” gây ra.
Làm thế nào để giảm đi tác hại của ngồi?
Một sự cân bằng giữa đi, đứng và ngồi là tốt nhất. Tại sở làm, cứ 50 phút nên tìm ít phút để thay đổi tư thế của cơ thể, đứng lên, làm vài động tác thể dục ngay tại vị trí, đi vòng quanh bàn, đi vệ sinh, đi uống nước. Nếu được cho phép, hoặc được chủ phân công, nên chọn dịp hay cơ hội để... đi hay đứng. Nếu không đứng hay đi được thì nên ngồi ngửa, soãi người trên ghế ở góc 135 độ, duỗi thẳng chân ít phút mỗi giờ. Một số công ty gần đây còn cho phép nhân viên có giờ tập thể dục hay được nằm để nghỉ trưa.
Những người ngồi coi ti vi hay “ngồi computer” trên 3 tiếng mỗi ngày, khả năng chết vì bệnh tim mạch tăng 64%. Sau đó, cứ mỗi giờ ngồi nán thêm trước màn hình, tỉ số tác hại sẽ tăng lên 11%. Một con số thống kê khác dễ hiểu hơn, cứ mỗi phút “ngồi computer”, hay “ngồi ti vi”, tuổi thọ sẽ giảm đi khoảng 23 giây.
Vì thế nên bớt ngồi trước các loại “màn hình to hay nhỏ”. Nếu “phải” xem ti vi thì nên tránh ngồi quá lâu. Nếu phải dùng computer thì nên đứng. Đứng, để lướt mạng sẽ hạn chế thời gian lang thang trên mạng, vô ích. Rất nhiều websites trên mạng có hướng dẫn thiết lập một hệ thống bàn computer để đứng. Các hãng xưởng hiện nay cho phép và khuyến khích nhân viên đứng để sử dụng computer. Bạn nên hỏi công ty của bạn, nếu cần thì xin toa bác sĩ để được phép đứng và đi nhiều hơn ngồi.
Trở lại các nghiên cứu khoa học, các bác sĩ vẫn chưa có lời giải thích cụ thể tại sao. Nhưng, nhận xét đơn giản là, cơ thể con người không phải được tạo ra để ngồi. Cho đến một vài trăm năm trước, các cụ ta làm lụng ngoài đồng, ngoài ruộng, bệnh béo phì và tim mạch kể như không hiện hữu. Từ ngàn xưa tới thời nay, so với quý ông, người phải đi, đứng, khó ngồi yên một chỗ là các bà. Cho dù có ngồi đi nữa, các cụ bà xưa cũng ngồi xổm, tư thế làm mạnh thêm bắp thịt vùng xương chậu và đôi chân. Có lẽ vì thế, thêm một lý do, đàn bà sống lâu hơn đàn ông.

Tóm lại, nên nghe các cụ dặn dò, “đi, đứng, nằm, ngồi”. Đi nhiều hơn đứng; đứng nhiều hơn ngồi. Có thì giờ dư thì nằm mà nghỉ vì càng ngồi nhiều thời gian sẽ đi nhanh hơn.

(Sưu tầm)-Tác giả: Bác sĩ Hồ Ngọc Minh

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013

Chuyện nồi cơm của Khổng Tử

Một lần Khổng Tử dẫn học trò đi du thuyết từ Lỗ sang Tề. Trong đám học trò đi với Khổng Tử có Nhan Hồi và Tử Lộ là hai học trò yêu của Khổng Tử
Trong thời Đông Chu, chiến tranh liên miên, các nước chư hầu loạn lạc, dân chúng phiêu bạt điêu linh, lầm than đói khổ … Thầy trò Khổng Tử cũng lâm vào cảnh rau cháo cầm hơi và cũng có nhiều ngày phải nhịn đói, nhịn khát. Tuy vậy, không một ai kêu than, thoái chí; tất cả đều quyết tâm theo thầy đến cùng.
May mắn thay, ngày đầu tiên đến đất Tề, có một nhà hào phú từ lâu đã nghe danh Khổng Tử, nên đem biếu thầy trò một ít gạo … Khổng Tử liền phân công Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi thì đảm nhận việc thổi cơm.
Tại sao Khổng Tử lại giao cho Nhan Hồi – một đệ tử đạo cao đức trọng mà Khổng Tử đã đặt nhiều kỳ vọng nhất – phần việc nấu cơm? Bởi lẽ, trong hoàn cảnh đói kém, phân công cho Nhan Hồi việc bếp núc là hợp lý nhất.
Sau khi Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, Nhan Hồi thổi cơm ở nhà bếp, Khổng Tử nằm đọc sách ở nhà trên, đối diện với nhà bếp, cách một cái sân nhỏ.
Đang đọc sách bỗng nghe một tiếng “cộp” từ nhà bếp vọng lên, Khổng Tử ngừng đọc, liếc mắt nhìn xuống … thấy Nhan Hồi từ từ mở vung, lấy đũa xới cơm cho vào tay và nắm lại từng nắm nhỏ … Xong, Nhan Hồi đậy vung lại, liếc mắt nhìn chung quanh … rồi từ từ đưa cơm lên miệng …
Hành động của Nhan Hồi không lọt qua đôi mắt của vị thầy tôn kính. Khổng Tử thở dài … ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Học trò nhất của ta mà lại đi ăn vụng thầy, vụng bạn, đốn mạt như thế này ư? Chao ôi! Bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nó thế là tan thành mây khói!”
Sau đó, Tử Lộ cùng các môn sinh khác mang rau về … Nhan Hồi lại luộc rau … Khổng Tử vẫn nằm im đau khổ …
Một lát sau rau chín. Nhan Hồi và Tử Lộ dọn cơm lên nhà trên; tất cả các môn sinh chắp tay mời Khổng Tử xơi cơm.
Khổng Tử ngồi dậy và nói rằng: “Các con ơi! Chúng ta đi từ đất Lỗ sang Tề đường xa vạn dặm, thầy rất mừng vì trong hoàn cảnh loạn lạc, dãi nắng dầm mưa, đói khổ như thế này mà các con vẫn giữ được tấm lòng trong sạch, các con vẫn yêu thương đùm bọc nhau, các con vẫn một dạ theo thầy, trải qua bao nhiêu chặng đường đói cơm, khát nước …
Hôm nay, ngày đầu tiên đến đất Tề, may mắn làm sao thầy trò ta lại có được bữa cơm. Bữa com đầu tiên trên đất Tề làm thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương nước Lỗ. Thầy nhớ đến cha mẹ thầy … cho nên thầy muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ thầy, các con bảo có nên chăng?
Trừ Nhan Hồi đứng im, còn các môn sinh đều chắp tay thưa: “Dạ thưa thầy, nên ạ!”
Khổng Tử lại nói: “Nhưng không biết nồi cơm này có sạch hay không?”
Tất cả học trò không rõ ý Khổng Tử muốn nói gì nên ngơ ngác nhìn nhau. Lúc bấy giờ Nhan Hồi liền chắp tay thưa: “Dạ thưa thầy, nồi cơm này không được sạch.”
Khổng Tử hỏi: “Tại sao?”
Nhan Hồi thưa: “Khi cơm chín con mở vung ra xem thử cơm đã chín đều chưa, chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng và bụi trên nhà rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm. Con đã nhanh tay đậy vung lại nhưng không kịp. Sau đó con liền xới lớp cơm bẩn ra, định vứt đi … nhưng lại nghĩ: cơm thì ít, anh em lại đông, nếu bỏ lớp cơm bẩn này thì vô hình trung làm mất một phần ăn, anh em hẳn phải ăn ít lại. Vì thế cho nên con đã mạn phép thầy và tất cả anh em, ăn trước phần cơm bẩn ấy, còn phần cơm sạch để dâng thầy và tất cả anh em …
Thưa thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi … bây giờ, con xin phép không ăn cơm nữa, con chỉ ăn phần rau. Và … thưa thầy, nồi cơm đã ăn trước thì không nên cúng nữa ạ!
Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật! Chao ôi! Suýt tí nữa là Khổng Tử này trở thành kẻ hồ đồ!”

Theo Hoavouu.

Ngoài "bài học" mà Khổng Tử đã thốt ra ở cuối câu chuyện, mình còn "lượm" thêm một bài học không kém phần ý nghĩa:
Dù tâm anh có trong sáng, tốt đẹp đến đâu nhưng nếu hành vi của anh không đàng hoàng, đứng đắn thì anh cũng sẽ làm cho người khác phải nghi ngờ và hiểu lầm anh. Hành động của Nhan Hồi trong câu chuyện rõ ràng là không ổn, nếu không muốn nói là trông rất gian: "Nhan Hồi từ từ mở vung, lấy đũa xới cơm cho vào tay và nắm lại từng nắm nhỏ … Xong, Nhan Hồi đậy vung lại, liếc mắt nhìn chung quanh … rồi từ từ đưa cơm lên miệng …".
Vậy nên dù Khổng Tử có "không hiểu được đúng sự thật" thì cũng là điều dễ hiểu thôi...

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

Mọi thứ càng tệ hại, mỗi người càng phải dấn thân

"Nhân tài thì không đào tạo được, mà chúng tôi chỉ tạo môi trường trong đó có chất xúc tác cho sự học của họ để giúp họ tự phát triển mà thôi. Tôi cũng nghĩ khó mà sử dụng được nhân tài vì một nhân tài thực sự luôn biết cách tự sử dụng mình. Nếu có chăng là những người làm lãnh đạo biết tạo ra một môi trường mà nhân tài thấy mình ở trong đó, và khi họ phát huy tài năng của mình thì cũng là lúc tổ chức và xã hội cùng được hưởng lợi."

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013

Samsara (phim dành cho người trên 18 tuổi và không phải phim sex)

Samsara được thực hiện năm 2001 bởi tài tử - đạo diễn tài năng Ấn Độ Pan Nalin. Bộ phim là sản phẩm hợp tác giữa bốn nền điện ảnh lớn là Ấn Độ, Pháp, Ý và Đức trong đó chủ chốt là điện ảnh Ấn Độ. 

Tác phẩm này đoạt được rất nhiều giải thưởng trong các Liên hoan phim Quốc tế, như giải phim hay nhất trong LHP Quốc tế Melbourne 2002, Giải của Ban tuyển lựa chính thức tại các LHP Quốc tế Sudance 2002, LHP Quốc tế Toronto 2001 và nhiều giải thưởng quốc tế quan trọng khác.


Truyện phim kể về hành trình tu hành – hoàn tục – tu hành rồi lại hoàn tục của một nhà sư trẻ tên là Tashi (tài tử Shawn Ku đóng). Vốn xuất thân từ một gia đình bình thường nhưng Tashi đã sớm theo con đường đắc đạo ngay từ khi còn nhỏ. Ở độ tuổi còn rất trẻ nhưng sư thầy Tashi cũng đã khiến rất nhiều các vị cao tăng nể phục cho cả quá trình tu hành dài suốt từ thưở ấu thơ cho đến lúc trưởng thành.



Nhưng rồi chính Tashi đã tự biến mình trở thành một người đàn ông tầm thường trong mắt mọi người khi anh bất chấp tất cả để được làm một người trần bình thường có niềm đam mê hạnh phúc và cuộc sống gia đình.

Anh gặp và yêu Pema – cô thôn nữ đầy sức sống tuổi trẻ từ ánh mắt đầu tiên. Anh khát khao cô và dần trở thành một người đàn ông không thể thiếu trong cuộc đời của Pema. Họ nên vợ nên chồng. Rồi thời gian thấm thoắt qua đi, niềm vui gia đình càng được nhân lên khi hai người có con chung với nhau. Chính lúc gia đình họ đang êm đềm nhất, Tashi đã lại muốn nhấc chân lên rời bỏ vợ con để trở về chốn núi non gõ mõ, tụng kinh, niệm Phật dưới chân Đức Phật.

Sau tình yêu nam nữ, đời sống vợ chồng bị cấm kị ấy, Tashi phải đứng trước những sự lựa chọn một mất một còn. Giữa con đường tu hành bỏ dở và trước trách nhiệm gia đình đã làm sư thầy trẻ phải dằn vặt trong lòng để lựa chọn con đường mà mình cho là đúng nhất.

 

Christy Chung (Montreal), 

thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp

nói thành thục tiếng Việt và tiếng Quảng Đông.

Cô luôn nhớ quê mẹ Việt Nam nhất là mảnh đất Sài Gòn.
Bộ phim ngồn ngộn những mặt đối lập tưởng chừng như không gì có thể khoả lấp nổi. Nhưng sợi dây tình yêu, sợi dây của sự đam mê đến cuồng dại của chàng sư thầy và cô thôn nữ đã đẩy các mặt đối lập trở nên dung hoà hơn. 

Bộ phim là tiếng nói rất tinh tế phản bác một phần nào đó cái lý của đạo Phật về quan niệm tình yêu đôi lứa, đời sống vợ chồng. Đồng thời nó cũng là lát kéo nhẹ nhàng nhưng đủ sắc để cắt và chọc ngoáy lại sự tầm thường và thói ích kỷ tồn tại bên trong của mỗi con người.

Mặt đối lập thứ nhất rất dễ nhận ra trong phim, đó là đối lập về mặt không gian giữa chàng trai tu hành Tashi và cô gái thôn quê Pema. Trong phim hai mảng không gian thay nhau hiện hữu, một bên là vùng đồi núi trơ trụi và cằn cỗi, ở đó có một ngôi đền là chốn tu hành của các các nhà tăng muốn theo con đường đắc đạo, giải thoát mọi nỗi đau, sự u uất của chốn phàm trần, trong đó có Tashi.

Và bên kia là vùng thung lũng hoang sơ và màu mỡ đến tuyệt đẹp. Ở đó có một cô gái tên là Pema nhan sắc rực rỡ. Hai không gian trái chiều và hoàn toàn biệt lập với nhau như hai mảng màu đối khắc không thể nào có điểm chung. Nhưng rồi chính chúng lại kết vào nhau hoà thành một bởi được nối với nhau bằng sợi dây của tình yêu oan nghiệt, vừa thiết tha, cuồng dại nhưng cũng vừa đớn đau, khổ luỵ của Pema và Tashi.

Đạo diễn đã truyền tải ý tưởng có dụng ý của mình, khi ông cho ánh sáng và màu sắc vô cùng rực rỡ, tươi đẹp ở vùng thung lũng nơi Pema sinh sống. Điều đó thể hiện và dự báo trước cho người xem thấy được sức sống và sự bùng nổ của nhân vật Tashi về nửa sau của phim.


Mặt đối lập thứ hai sâu sắc hơn và cũng là chủ đề mà đạo diễn muốn phản ánh thông qua bộ phim này. Đó chính là sự đối lập trong chính con người của chàng sư trẻ Tashi. 

Hình ảnh Tashi hiện lên ở hai mặt đối lập rất khác nhau nhưng cùng tồn tại trong bản thân anh. Đó là một Tashi tu hành khổ hạnh, phải cắt đứt mọi đam mê dục vọng chốn phàm trần và một Tashi - người chồng người cha người đàn ông trụ cột trong gia đình, là con người sống rất bản năng với những ham muốn tầm thường nhất.



Đạo diễn Pan Nalin khắc họa hai khía cạnh trái chiều này trong một con người rất tinh tế và đầy ngụ ý. Ông trộn lẫn chúng thành một rồi chia thành hai mảng độc lập nhưng phim lại thể hiện không gượng gạo, hoàn toàn đúng mạch tự nhiên.

Cách khai thác có chiều sâu hai mảng đời của Tashi thể hiện một trình độ am hiểu tâm lý bậc thầy của Pan Nalin về những người tu hành chốn núi non Ấn Độ. Tashi khi là một sư thầy tu hành được đạo diễn khai thác không nhiều nhưng có tính khái quát cao. 

Cuộc đời hơn hai mươi năm của anh chỉ quanh quẩn trên vùng núi Ladakh (Ấn Độ) tách biệt với thế giới con người, chuyên tâm cho con đường chính quả. Để mong một ngày vào cõi Niết Bàn cực lạc, Tashi cũng đã mất ba năm, ba tháng, ba tuần, ba ngày ròng rã tọa thiền một mình trên đỉnh núi cao nhất. 

Sau tháng năm dài ngồi thiền anh được đưa trở về tu viện trong vinh quang và được phong cấp bậc Khenpo danh giá. Anh vui mừng tột độ và cảm thấy hãnh diện khi được phong cấp trên con đường tu hành đắc đạo của mình. 

Sự kiên trì được đền bù khi xung quanh mình, Tashi nhận được những ánh mắt nể phục của các vị cao tăng, sự ngưỡng mộ của những tiểu sư thầy… và bản thân mình Tashi cũng thấy như được bước chân lên mây. Con đường chánh quả mở ra trước mắt Tashi thật rộng lớn, thênh thang…

Nhưng niềm vui trên tồn tại không được lâu vì Tashi đã tìm được nguồn vui mới. Một nguồn vui trần tục. Tashi đã rời bỏ chốn thiền viện, chạy theo một cuộc tình bản năng mà chàng biết là bị ngăn cấm. Tashi yêu một cô gái tên là Pema (do diễn viên gốc Việt Chung Lệ Đề thủ vai) ngay từ ánh mắt đầu tiên. 

Sau cuộc gặp đầu tiên mà như định mệnh đã sắp đặt ấy, Tashi đã tự đạp đổ công trình tu hành bao năm của chính mình. Chàng bỏ lại sau lưng thế giới vô ưu vô lo mà mình từng sống ở đó, từng mất biết bao nhiêu thời gian và công sức để đạt được để cùng Pema xây dựng hạnh phúc gia đình. 
Cũng lúc này đây Tashi chợt nhận ra những bước đi đã qua trên con đường tu hành của mình. Anh hồi nhớ về thuở ấu thơ bị người cha bỏ mặc trên núi cùng các vị cao tăng. Anh đã đi theo chân Đức Phật ngay từ lúc còn nhỏ dại ngây thơ đó. 

Nay nguồn vui trần tục mới lạ đã đến khiến bản thân anh nảy sinh và tìm ra một con đường mới mà mình phải vượt qua. Anh chọn Pema. Dù sư phụ anh có khuyên răn dạy bảo quyết liệt Tashi vẫn kiên quyết chọn con đường trở thành người bình thường. Anh không dài dòng kể lể để giải thích cho sự lựa chọn của mình. 
Tashi chỉ nói với sư phụ của anh rằng, thái tử Tất Đạt Đa trước khi trở thành Đức Phật thì Ngài cũng từng sống cuộc đời trần tục tới năm 29 tuổi. Còn anh mới năm tuổi đã phải sống cuộc đời khổ hạnh như Đức Phật sau khi Người rời bỏ hồng trần. Tashi phát ngôn lên trong làn nước mắt, anh muốn chứng minh cho sư phụ anh thấy anh cũng chẳng là thần thánh gì cả, chỉ là một con người bình thường mà thôi.

Vậy là Tashi đã theo con đường tìm về cõi giác. Anh đã xóa đi tư tưởng một lòng theo giáo lý Đức Phật bấy lâu ngự trị trong trái tim mình. Anh gây dựng hạnh phúc gia đình với Pema và trở thành một người chồng, người cha có trách nhiệm. 

Một sự đối lập có dụng ý nghệ thuật rất đáng chú ý ở đây là khi Tashi và Pema gặp nhau lần đầu tiên thì bối cảnh dựng lên là một không gian bó hẹp (trong một dãy hành lang nhỏ), nhưng khi hai người yêu nhau (lúc này Tashi đã bỏ chốn tu hành) không gian hoàn toàn thông thoáng và khoáng đạt. 

Nó thể hiện cho sự tự do, cho bản năng khát vọng rất tự nhiên của con người. Bản năng ấy vượt qua mọi giới hạn, rào cản để con người thoải mái được bộc lộ “cái tôi”, “cái chất” tìm ẩn của mình.


Tashi khi là một người trụ cột trong gia đình, đạo diễn lại khắc hoạ anh dưới một góc độ hoàn toàn khác. Đạo diễn “ép” Tashi phải vùng vẫy trong hoàn cảnh khó khăn và nặng nề của cuộc sống con người bình thường để tính cách anh phát triển.



Vì là người cha người chồng, anh phải làm nhiều việc khác nhau vật lộn kiếm sống để gìn giữ gia đình. Tashi khi này đã biết ăn thịt, biết những mánh khóe nhỏ nhoi của cuộc sống mà anh chưa bao giờ làm trong thời gian tu hành. Với anh bản năng tình dục còn lớn hơn tất cả mọi thứ mà anh đã từng làm trước kia. 

Tashi chạy theo cuộc tình bản năng không phải đơn thuần xuất phát từ bản tính đàn ông mà hơn cả anh nhận ra sự nhàm chán của những công việc tụng kinh gõ mõ hằng ngày. Sau này khi anh có ý định trở về tu viện cũng vì anh nhận thấy mình đau khổ và buồn chán với những công việc lặp đi lặp lại của cuộc sống bình thường. Tashi lại một lần nữa đứng trước những sự lựa chọn đối lập rất khó khăn của riêng mình.

Sự lựa chọn của anh, dù có tiếp tục con đường tu hành bỏ dở hay cùng Pema trở về gia đình, thì sự lựa chọn ấy cũng gắn liền với trách nhiệm. Hai con đường đối lập đến tái tê khiến Tashi lưỡng lự không thể chọn lựa nổi. Nếu anh trở về núi tu hành thì anh sẽ là một kẻ bội bạc trong tình yêu.

Một kẻ đã từng dám phá bỏ bức tường ngăn cấm của Đức Phật để yêu một tình yêu bị cấm đoán. Người đã cùng Pema yên ấm một mái nhà, giờ lại trở thành một người chồng bội bạc, một người cha tồi.

Nhưng chính cuộc trở lại chốn thiền tu, Tashi lại thấy mình có trách nhiệm với giáo lý nhà Phật. Anh thấy mình phải có trách nhiệm tiếp tục con đường đạo mà mình đã từng theo từ thủa nhỏ. Nếu anh về với vợ con, để cứu vãn một gia đình đang có nguy cơ tan vỡ thì anh sẽ vĩnh viễn lìa xa con đường chân tu. Nhưng khi sống với vợ con, anh lại thấy mình làm tròn nhiệm vụ của một người trụ cột trong gia đình.

Hai con đường lựa chọn khác xa nhau, đối lập nhau giờ đây con đường nào Tashi chọn cũng phải gắn liền với trách nhiệm và khiến anh cảm thấy bối rối, mệt mỏi và đớn đau.

Khi anh dứt áo ra đi, bỏ vợ con ở lại để tiếp tục con đường mà Đức Phật đã đi. Anh đã quay trở về con sông xưa tắm sạch bụi trần, tội lỗi mà mình phạm phải để trở lại chốn thiền tu. Lúc này đây người xem thấy được hai quá trình ngược chiều nhau đã diễn ra trong cuộc đời Tashi. 

Một là, ban đầu anh rời chốn thiền viện đi theo hành trình tìm về cõi giác.
Lần thứ hai, anh lại bỏ vợ con trở về chốn tu hành. Hai lần ra đi ngược chiều này của anh ta thực chất chỉ nhằm một mục đích, đấy là sự vị kỉ và thỏa mãn của riêng anh.

Lần thứ nhất, anh xuống núi nhằm thỏa mãn dục tính, bản chất “người” của mình. Lần thứ hai, anh lên núi tìm về tu viện nhằm đoạn tuyệt với nỗi đau buồn chốn hồng trần lại cũng vì anh. Lúc này đây anh vô tình coi cửa Phật chỉ là điểm đến để giải thoát những vui buồn, hờn giận, chán nản và sự chai sạn với cảm xúc tình yêu – dục tính của cuộc sống vợ chồng. 

Anh muốn về quỳ dưới chân Đức Phật để tụng kinh gõ mõ rời xa cuộc sống bụi trần. Đấy chính là tính ích kỷ tồn tại trong con người Tashi. Nó chi phối mọi hoạt động và sự suy tính của anh. Tashi đã sống hai cuộc đời và đều có ý chối từ chúng.

Mỗi lần đoạn tuyệt với cuộc sống cũ để đến cuộc đời mới Tashi đều qua một con sông tắm rửa. Ở đây đạo diễn Pan Nalin sử dụng hình ảnh con sông để tượng trưng cho sự tẩy trần và gột rửa quá khứ muốn chối bỏ của Tashi theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. 

Dù nhân vật Tashi có coi con sông là nơi anh có thể phủ định sạch trơn quá khứ của mình nhưng anh cũng không thể nào bình yên với sự dằn vặt của chính mình...

Pema chặn chồng giữa đường khi anh đã cạo trọc đầu lên núi. Cô kể cho anh nghe chuyện tình của Đức Phật tổ Siddhartha. Siddhartha đã rời bỏ vợ mình là Yashodhara và con trai Rahul lúc nửa đêm đi tìm sự khai sáng để trở thành Phật tổ. Nhưng liệu có ai nghĩ cho Yashodhara đã sống cuộc đời u uất, đau ốm vì nhớ thương chồng. 

Sự khai sáng của đức ông chồng đã mang lại gì ngoài nỗi bất hạnh cho bà và con trai. Lúc này đây Pema cũng bị đặt vào tình thế ấy. Nếu Tashi bỏ gia đình tiếp tục con đường chính quả thì anh sẽ để lại cho vợ con anh một nỗi đau dai dẳng khó lòng lấp nổi. 

Đạo diễn Pan Nalin xây dựng hình ảnh Pema ngoài là đối tượng khiến Tashi hoàn tục, cô còn là người phát ngôn các triết lý của phim.

Nếu tâm trí anh hướng về Phật pháp cũng mãnh liệt như tình yêu và sự đam mê anh đã cho em thấy, thì anh đã trở thành một Đức Phật ở trong lòng rất nhiều người trong cuộc đời trần tục này”. 

Câu nói này của Pema thể hiện rõ nhất tư tưởng của phim, anh hãy sống có trách nhiệm với chính bản thân anh, với chính những người thân của anh thì anh cũng đã trở thành một Đức Phật rồi.

Sự khai sáng và giải thoát khổ đau không nằm ở chốn nào khác mà nó nằm ngay trong thâm tâm anh. Phim cũng muốn nói đến một góc khuất nằm trong sâu thẳm trái tim Tashi, ấy là anh phải sống chân thật như chính trái tim dục vọng và khát khao trong con người anh.

Đứng trước những lựa chọn cay đắng, Tashi đã khóc, quằn quại trong đau đớn vì day dứt, vì chọn con đường nào anh cũng thấy mình là kẻ tội đồ. Đạo diễn Pan Nalin sử dụng một hình ảnh rất đắt thể hiện được sự lựa chọn còn mù mờ của Tashi. Tashi bước đi và để rơi chiếc áo thầy tu xuống đất. Điều đó chứng tỏ Tashi còn vô vàn bộn bề phân vân… 

Một cái kết mở khiến người xem day dứt. Hai con đuờng đối lập nhau, một con đường lên núi đầy cát sỏi và một con đường xuống núi màu mỡ đất đai. Ở giữa hai con đường ấy có một chàng sư trẻ Tashi lặng lẽ bước đi và đánh rơi chiếc áo thầy tu. Chọn con đường nào cho mình, cho điểm đến tương lai, điều đó còn bỏ ngỏ phía trước đối với Tashi và là câu hỏi mà người xem muốn kiếm tìm ở đoạn kết của câu chuyện.

Samsara là tác phẩm điện ảnh đáng tự hào của điện ảnh châu Á đầu thế kỷ này. 

Bộ phim tuy đề cao triết lý nhân văn sâu sắc của nhà Phật, nhưng đồng thời nó cũng ngấm ngầm phản biện lại một số quan điểm về bản năng dục vọng, trách nhiệm của con người mà Đức Phật đưa ra. Nhưng đọng lại nhiều hơn cả trong tâm trí người xem vẫn là hình ảnh những nhà tu hành với suy tư, trách nhiệm của mình trước những việc làm trần tục mà chính cá nhân mình phạm phải.

Lê Trương Công (TGĐA Online)
Link phim trên Youtube. Nhớ nhấp cc để xem phụ đề Tiếng Anh.



Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

Cọp vàng và gấu non

Cuộc sống vẫn luôn có những điều kỳ diệu xảy ra. Mình không thể nào tin nổi những gì diễn ra trong cuốn phim này là sự thật. Mỗi lúc bạn bị dồn đến chân tường, sinh mạng như ngàn cân treo sợi tóc, hãy học chú gấu con dũng cảm này. Nỗ lực chiến đấu tới hơi thở cuối cùng. Và bạn sẽ chiến thắng.


Thứ Hai, 17 tháng 12, 2012

Đàn cừu và bầy sói

Mình đã từng đọc chuyện "Sói và Cừu" hoặc những chuyện tương tự ở đâu đó. Nay đọc thêm "Đàn cừu và bầy sói" theo cách "kể" của anh  Alan. Vẫn là đoạn kết rất "trăn trở" và "khắc khoải" đậm đặc kiểu Alan, không thể lẫn với ai được. Xin cảm ơn anh. Quy luật thiên nhiên quả là "tàn nhẫn". 

"Quay lại với ông già Alan. Nhiều người hỏi thế ông là sói hay cừu? Tôi cũng muốn hoang tưởng cho mình là một con sói thông minh kiểu The Lone Wolf của văn chương Âu Mỹ. Nhưng tôi biết cá tính mình không bao giờ có thể làm sói, dù lãnh tụ hay theo đàn. Mà mình cũng không phải là cừu để làm nạn nhân của ai. Ở tuổi này, tôi  chỉ có thể làm một con khỉ già, sống trên những tang cây cao, tránh xa nanh vuốt của loài sói.
Và những đêm sáng trăng, đứng trên xa, nhìn tiếng hú gọi đàn của bầy sói và tiếng la hét kinh hoàng của đàn cừu, tôi mới hiểu tại sao Joseph Conrad nói về The Heart of Darkness. Không làm gì hơn ngoài một tấm lòng bất nhẫn… nhưng phải lặng im chấp nhận quy luật và chu kỳ của thiên nhiên."


Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2011

Quản trị bản thân-Peter F. Drucker

Thời đại chúng ta đang sống mang đến cho con người những cơ hội chưa từng có: nếu có đủ tham vọng và khôn khéo, mỗi người có thể vươn tới đỉnh cao trong nghề nghiệp mà mình lựa chọn, bất kể điểm xuất phát điểm là như thế nào.

Nhưng cơ hội thì luôn đi đôi với trách nhiệm. Ngày nay, các công ty không còn quản lý sự nghiệp của các nhân viên mình nữa. Thay vào đó, để gia tăng tính hiệu quả, mỗi người lao động trí thức phải trở thành vị giám đốc điều hành cho chính bản thân mình. Bạn hoàn toàn có thể tự ra quyết định về nơi làm việc, biết được thời điểm thay đổi con đường đi của mình, và tạo dựng cho mình sự gắn bó và khả năng làm việc có năng suất cao trong suốt quãng thời gian làm việc có thể kéo dài đến 50 năm. Để thực hành tốt những điều này, bạn phải có một sự hiểu biết sâu sắc về chính bản thân mình, không chỉ là những hiểu biết về điểm mạnh, điểm yếu của bạn mà còn là cách thức học tập, cách làm việc với người khác, giá trị của bản thân, và các lĩnh vực mà bạn có thể đóng góp được nhiều nhất. Bởi vì chỉ khi làm việc dựa trên các điểm mạnh của mình bạn mới có thể đạt được kết quả xuất sắc thực sự.

Các bậc vĩ nhân trong lịch sử như Napoléon, Leonardo de Vinci, hay Mozart đều luôn luôn quản trị bản thân họ. Trong một chừng mực nào đó, điều này đã giúp họ trở thành những vĩ nhân. Nhưng họ chỉ là những ngoại lệ rất hiếm hoi. Tài năng và thiên khiếu của họ vượt ra khỏi giới hạn của những con người bình thường. Hầu hết tất cả chúng ta, cho dù chỉ là những con người với những khả năng rất khiêm tốn, đều phải học cách quản trị bản thân. Chúng ta phải học cách để phát triển bản thân. Chúng ta đặt mình vào những vị trí mà chúng ta có thể đóng góp được nhiều nhất. Chúng ta phải luôn tỉnh táo và cam kết với bản thân trong suốt 50 năm làm việc. Điều này có nghĩa là phải biết được khi nào và làm thế nào chúng ta thay đổi việc mình làm.

Điểm mạnh của tôi là gì?

Hầu hết mọi người nghĩ rằng họ biết được thế mạnh của mình. Thường thì họ đã sai. Thay vào đó, phần đông mọi người thường biết được những điều mà không phải là thế mạnh của họ. Nhưng con người chỉ có thể hoạt động dựa trên điểm mạnh của mình. Người ta không thể làm tốt công việc dựa trên các điểm yếu của mình được chứ chưa nói đến chuyện để cho ai đó làm những việc mà họ không thể làm.

Ngày xưa, con người ít có nhu cầu biết được các điểm mạnh của mình. Kể từ khi được sinh ra, mỗi người được đặt vào một vị trí nhất định và làm một công việc nhất định: con trai của một người nông dân thì cũng trở thành một người nông dân, con gái một người thợ thủ công rồi cũng trở thành một phụ nữ làm nghề thủ công,… Nhưng ngày nay con người đã có nhiều lựa chọn. Chúng ta cần phải biết được những điểm mạnh của mình để biết được nghề nghiệp phù hợp với bản thân mình.

Để khám phá các điểm mạnh của mình, bạn chỉ có cách áp dụng kĩ thuật phân tích phản hồi (feedback analysis). Những lúc bạn đưa ra những quyết định quan trọng hay làm những việc quan trọng, hãy ghi ra những điều mà bạn kì vọng sẽ xảy ra. Sau 9 hoặc 12 tháng, bạn so sánh các kết quả thực sự đạt được với những điều mà bạn kì vọng. Tôi đã thực hành phương pháp này được khoảng 15 đến 20 năm, và mỗi lần thực hành tôi đều nhận được các kết quả rất bất ngờ. Có lần tôi đã rất bất ngờ khi áp dụng phương pháp này và phát hiện ra mình có trực giác đối với những người làm công việc kĩ thuật, cho dù họ là các kĩ sư hay nhân viên kế toán hay người nghiên cứu thị trường. Nó cũng chỉ cho tôi biết rằng tôi không thực sự cộng hưởng được với những người có kiến thức tổng quát.

Kĩ thuật phân tích phản hồi cũng không phải là điều gì mới mẻ. Nó được phát minh vào khoảng thế kỉ 14 bởi một nhà thần học người Đức không biết tên. 150 năm sau đó nó được phát triển một cách độc lập bởi John Calvin và Loyola (được phong Thánh). Cả hai người đều áp dụng phương pháp này cho những người đi theo họ. Thực tế, chính nhờ sự tập trung cao độ vào hoạt động và kết quả theo phương pháp này đã giải thích được lí do tại sao hai tổ chức mà hai người này thành lập, nhà thờ Calvinist và dòng tu Jesuit, đã thống trị cả châu Âu trong vòng 30 năm.

Nếu thực hành kiên trì, phương pháp đơn giản này sẽ cho bạn thấy các điểm mạnh của bạn trong một thời gian tương đối ngắn, thông thường khoảng từ 2 đến 3 năm. Và điểm mạnh chính là điều quan trọng nhất mà bạn phải nắm từ phương pháp này. Từ những gì bạn làm được hoặc không làm được, phương pháp này sẽ cho bạn thấy tất cả các lợi ích từ điểm mạnh của bạn. Nó cũng sẽ chỉ cho bạn biết những công việc cụ thể mà bạn không có năng lực. Và sau cùng, nó sẽ chỉ cho bạn biết những công việc mà bạn không có điểm mạnh nào cả và bạn không thể hoàn thành được.

Sau khi thực hành kĩ thuật phân tích phản hồi, bạn sẽ có được một số gợi ý để hành động. Đầu tiên và cũng là quan trọng nhất, bạn cần phải tập trung vào điểm mạnh của mình. Hãy đặt mình vào những chỗ mà bạn có thể phát huy điểm mạnh để tạo ra kết quả tốt.

Thứ hai, bạn cần phải làm việc để phát triển điểm mạnh của mình. Phân tích sẽ nhanh chóng cho bạn biết những chỗ bạn cần phát triển thêm các kĩ năng hoặc học hỏi thêm những kĩ năng mới. Nó cũng sẽ chỉ ra lỗ hổng trong kiến thức của bạn, và những lỗ hổng này thông thường có thể lấp đầy lại được. Các nhà toán học thì cần phải có năng khiếu bẩm sinh, nhưng ai cũng có thể học được môn lượng giác.

Thứ ba, bạn cần khám phá những chỗ mà sự tự hào về kiến thức đang che lấp sự thiếu hiểu biết của bạn, và tìm cách vượt qua điều này. Có rất nhiều người, đặc biệt đối với những người có kiến thức chuyên sâu trong một lĩnh vực nào đó, thường xem thường kiến thức trong các lĩnh vực khác, hoặc họ tin rằng sự thông minh nhanh trí có thể thay thế được cho kiến thức. Ví dụ, các kĩ sư hạng nhất thường có xu hướng tự hào về việc chẳng biết điều gì về người khác. Họ tin rằng con người nói chung quá lộn xộn để có thể có được tư duy tốt của một người kĩ sư. Trái lại, các chuyên gia về nhân sự thường tự hào về việc chẳng biết gì đối với các kiến thức sơ đẳng về kế toán hay các phương pháp định lượng khác.  Nhưng tự hào về những sự thiếu hiểu biết như vậy chỉ là cách tự phòng vệ.  Để đạt được các kĩ năng và kiến thức cần thiết cho công việc, bạn cần phải nhận thức đầy đủ về các điểm mạnh của mình.

Điều chỉnh các thói quen xấu cũng là điều quan trọng không kém. Các thói quen xấu là những điều bạn làm hoặc không làm kiềm hãm tính hiệu quả và hoạt động của bạn. Những thói quen như thế sẽ nhanh chóng được lộ ra trong phần phản hồi. Ví dụ, một kế hoạch hoàn hảo có thể thất bại bởi vì người lập kế hoạch không bám sát theo kế hoạch. Cũng giống như những người thông minh khác, người này tin rằng các ý tưởng có thể dịch chuyển được các ngọn núi. Nhưng những chiếc xe ủi mới có thể di chuyển các ngọn núi, các ý tưởng chỉ chỉ ra được nơi các xe ủi nên hoạt động. Người lập kế hoạch này cần phải biết rằng công việc sẽ chưa kết thúc một khi kế hoạch chưa được thực hiện xong. Anh ta phải tìm kiếm người thực hiện kế hoạch và giải thích kế hoạch cho họ. Anh ta phải điều chỉnh và thay đổi kế hoạch khi đưa nó vào thực tiễn. Và sau cùng, anh ta phải quyết định thời điểm không thúc đẩy kế hoạch nữa.

Phản hồi cũng cho thấy vấn điều thiếu hành vi ứng xử hợp lý. Hành vi ứng xử là chất bôi trơn cho một tổ chức. Có một quy luật tự nhiên là hai vật thể chuyển động khi va chạm vào nhau thì sẽ sinh ra ma sát. Cũng giống như các vật vô tri vô giác, điều này cũng đúng với con người. Hành vi ứng xử, đơn giản như nói những từ “xin vui lòng”, “cảm ơn”, nhớ tên người khác hoặc hỏi han về gia đình người khác, giúp cho hai con người làm việc được với nhau cho dù họ có thích nhau hay không. Những người thông minh nhanh trí, đặc biệt là những người trẻ tuổi, thường không hiểu được điều này. Nếu phân tích chỉ ra rằng công việc chính của một người thất bại hết lần này đến lần khác mỗi khi họ được yêu cầu hợp tác với người khác thì có lẽ nó ám chỉ một thiếu sót trong quy tắc xã giao hay chính là cách cư xử của người này.

So sánh kì vọng của bạn với kết quả thực sự cũng hàm chỉ những điều không nên làm. Có rất nhiều lĩnh vực mà chúng ta chẳng có tí tài năng hoặc kĩ năng nào, và do đó có rất ít cơ hội để tiến bộ, dù chỉ tới mức tầm thường. Trong các lĩnh vực đó, một người, đặc biệt là một người lao động trí thức, không nên làm việc và nhận nhiệm vụ. Người ta càng cố gắng giảm thiểu các nỗ lực tập trung vào các lĩnh vực mình kém năng lực càng tốt. Phát triển từ chỗ không có năng lực trở thành bình thường thì tốn công sức hơn nhiều so với việc phát triển từ mức hoạt động tốt lên xuất sắc. Thế vậy mà vẫn có rất nhiều người, đặc biệt là hầu hết các giáo viên và các tổ chức, tập trung vào việc biến những người không có năng lực thành những người bình thường. Thay vào đó, công sức, nguồn lực và thời gian nên được dành cho việc biến những con người có năng lực thành những con người xuất sắc.

Tôi hành động bằng cách nào?

Thật ngạc nhiên khi có rất ít người biết được cách thức họ làm việc. Thực vậy, hầu hết chúng ta thậm chí còn không biết được là những con người khác nhau thì thực hiện công việc theo những cách khác nhau. Có rất nhiều người làm việc theo những cách không phải là của họ, và điều này hầu như chắc chắn dẫn tới việc họ chẳng làm được gì cả. Đối với những người lao động trí thức, câu hỏi Tôi làm việc bằng cách nào? thậm chí còn quan trọng hơn câu hỏi Điểm mạnh của tôi là gì?

Cũng giống như điểm mạnh, cách làm việc của những người khác nhau là khác nhau. Điều này thuộc về vấn đề tính cách cá nhân. Cho dù tính cách được hình thành một cách tự nhiên hay là do nuôi dưỡng đi chăng nữa thì có thể chắc chắn một điều rằng tính cách được hình thành rất lâu trước khi người ta đi làm. Và cách một người làm việc là một điều đã có, cũng giống như các thế mạnh và yếu của mỗi người là một điều đã có. Cách làm việc của một con người chỉ có thể thay đổi tí chút chứ không thể thay đổi hoàn toàn được, và điều này cũng không phải dễ dàng gì. Cũng giống như việc người ta chỉ đạt được kết quả bằng cách làm những việc người ta giỏi, họ cũng chỉ đạt được kết quả bằng cách mà họ thực hiện tốt nhất. Thông thường, một số ít nét tính cách sẽ quyết định cách một người làm việc.

Tôi là một người đọc (reader) hay một người lắng nghe (listener)? Điều đầu tiên cần phải biết là bạn là một người đọc hay một người lắng nghe. Rất ít người biết được có hai loại người: người đọc hay là người lắng nghe, và rất ít người thuộc cả hai. Số người biết được họ thuộc loại nào trong hai loại trên thậm chí còn hiếm hơn. Một số thí dụ sau đây sẽ chỉ ra được mức độ tai hại của việc không nhận thức được hai loại này.

Khi còn là Tư lệnh tối cao của lực lượng đồng minh ở châu Âu, Dwight Eisenhower trở thành một người được giới báo chí yêu thích. Các buổi họp báo của ông có phong cách nổi tiếng. Eisenhower luôn tỏ ra làm chủ hoàn toàn bất kì câu hỏi nào được đặt ra, và ông có khả năng mô tả tình hình và giải thích chính sách gói gọn trong chỉ hai hoặc ba câu sử dụng ngôn từ bóng bẩy và lịch lãm. Mười năm sau đó, chính những nhà báo đã từng ngưỡng mộ Eisenhower đã trở nên coi thường ông. Họ phàn nàn rằng ông không bao giờ tập trung vào câu hỏi mà chỉ nói huyên thuyên không ngừng về những chuyện chẳng liên quan. Họ không ngừng nhạo báng rằng ông đã làm hỏng tiếng Anh bằng các câu trả lời không mạch lạc và sai chính tả.

Rõ ràng là Eisenhower không biết rằng ông là một người đọc chứ không phải là một người lắng nghe. Khi còn là Tư lệnh tối cao tại châu Âu, cấp dưới của Eisenhower luôn đảm bảo rằng mọi câu hỏi từ giới báo chí phải được đưa ra ở dạng văn bản ít nhất là nửa tiếng trước khi cuộc họp báo bắt đầu. Và do đó Eisenhower đã làm chủ hoàn toàn. Khi trở thành tổng thống, ông đã kế vị hai người tiền nhiệm thuộc loại lắng nghe là Franklin D. Roosevelt và Harry Truman. Cả hai người này đều biết họ là những người lắng nghe nên cảm thấy rất thoải mái với các cuộc họp báo mở. Eisenhower có lẽ đã nghĩ rằng ông phải làm những gì mà hai người tiền nhiệm của mình đã làm. Kết cục là ông không bao giờ lắng nghe được các câu hỏi của giới báo chí. Và Eisenhower không phải là một trường hợp quá hiếm hoi về một người không biết lắng nghe.

Một vài năm sau đó, Lydon Johnson hầu như đã tự phá hủy cương vị tổng thống của mình chỉ vì không biết rằng mình là một người lắng nghe. Người tiền nhiệm của ông, John Kennedy, là một người đọc. Kennedy đã tập hợp quanh mình nhiều thư kí và trợ lý để đảm bảo rằng ông nhận được thông tin dưới dạng các memo trước khi thảo luận vấn đề với mọi người. Johnson đã giữ lại những người này, và họ vẫn tiếp tục viết. Và rõ ràng ông đã không thể hiểu nổi được chữ nào của họ. Tuy nhiên, khi còn là một thượng nghị sĩ, Johnson đã rất xuất sắc trong vai trò của một người nghe, phẩm chất mà đa số các nghị sĩ quốc hội Mỹ cần phải có.

Có ít người lắng nghe được chuyển hoặc tự chuyển thành những người đọc có năng lực, và ngược lại. Người lắng nghe nếu cố gắng trở thành một người đọc sẽ chịu chung số phận với Lyndon Johnson, và ngược lại một người đọc cố gắng trở thành người lắng nghe sẽ chịu chung số phận với Dwight Eisenhower. Họ sẽ không thực hiện hay đạt được cái gì cả.

Tôi học bằng cách nào?

Điều thứ hai cần phải biết về cách làm việc là biết về cách học. Có nhiều người viết giỏi, như Winston Churchill, học hành rất kém. Họ chỉ nhớ đến thời kì đi học như những màn tra tấn. Tuy vậy, có ít bạn học của họ có cùng cách nghĩ như vậy. Họ có thể đã không vui vẻ khi đi học lắm, nhưng điều tồi tệ hơn họ phải chịu đựng chính là sự chán chường. Theo nguyên tắc, lời giải thích cho chuyện này chính là vì những người viết không học bằng cách lắng nghe hay đọc. Họ học bằng cách viết. Bởi vì trường học không cho phép họ học theo cách này nên thứ bậc của họ rất kém.

Trường học ở khắp mọi nơi được tổ chức dựa trên giả định là chỉ có một cách đúng đắn để học và chỉ có một cách được áp dụng cho tất cả mọi người. Thật là chán nản nếu một học sinh với một cách học khác biệt bị ép phải học theo cách dạy của nhà trường. Thực vậy, có cả nửa tá cách khác nhau để người ta học.

Có những người, giống như Churchill, học bằng cách viết. Nhiều người học bằng cách ghi chú. Ví dụ, Beethoven đã  để lại một số lượng rất lớn các bản thảo, nhưng ông cho biết ông chưa bao giờ thực sự nhìn vào chúng khi ông soạn nhạc. Khi được hỏi tại sao ông lại giữ các bản thảo, người ta kể lại ông đã trả lời rằng: “Nếu tôi không viết xuống ngay lập tức, tôi sẽ quên nó ngay. Nhưng nếu tôi viết vào một cuốn sổ nháp, tôi sẽ không bao giờ quên nó và không bao giờ nhìn nó lại một lần nữa.” Nhiều người học bằng cách làm. Nhiều người khác học bằng cách nghe chính mình nói.

Tôi biết một giám đốc điều hành đã phát triển một công ty gia đình nhỏ và bình thường thành công ty dẫn đầu trong ngành kinh doanh và ông ta là một người học bằng cách nói. Ông ta có thói quen mỗi tuần một lần gọi toàn bộ nhân viên cấp cao vào trong phòng của mình và nghe ông ta nói từ 2 đến 3 tiếng. Ông ta đưa ra các vấn đề chính sách và tranh luận với ba vị trí ở mỗi vấn đề. Ông ta hiếm khi yêu cầu các cộng sự của mình đưa ra lời bình luận hay câu hỏi, ông ta chỉ đơn giản cần khán giả để nghe ông ta nói. Đó là cách học của ông ta. Và mặc dù ông ta là một trường hợp tương đối hiếm, học hỏi bằng cách nói không phải là một phương pháp bất thường. Các luật sư tranh tụng thành công và các thầy thuốc chẩn đoán bệnh cũng học bằng cách này (và tôi cũng vậy).

Trong số những điều quan trọng cần biết về bản thân, hiểu được cách học là điều dễ dàng nhất. Khi tôi hỏi mọi người “bạn học bằng cách nào?”, hầu hết đều biết câu trả lời. Nhưng khi tôi hỏi “Bạn có hành động dựa trên những kiến thức này không?”, thì có ít người trả lời là có. Thực ra, hành động dựa trên kiến thức mới là điều quan trọng trong thực hiện, hay đúng hơn là, không hành động dựa trên kiến thức sẽ bị quy cho là không thực hiện.

Tôi là một người đọc hay một người lắng nghe? Và tôi học bằng cách nào? là những câu hỏi đầu tiên cần phải đặt ra. Nhưng điều này không có nghĩa là chỉ đặt ra những câu hỏi này. Để quản trị bản thân một cách hiệu quả, bạn cũng cần phải hỏi Tôi có làm việc tốt với mọi người hay không, hay tôi chỉ là một người cô độc? Và nếu bạn làm việc tốt với mọi người thì bạn phải hỏi là trong mối quan hệ nào?
Một số người làm tốt ở vị trí cấp dưới. Tướng George Patton, anh hùng quân đội vĩ đại của nước Mỹ trong Thế chiến II, là một ví dụ điển hình. Patton là một Tư lệnh quân đội hàng đầu của nước Mỹ. Tuy nhiên khi ông được đề nghị giao quyền chỉ huy độc lập, tướng George Marshall (người đứng đầu phụ trách nhân sự cho quân đội Mỹ và có lẽ là người tuyển chọn nhân sự thành công nhất trong lịch sử nước Mỹ) nói rằng: “Patton là trợ lý tốt nhất mà quân đội Mỹ từng có, nhưng ông ta sẽ là một Tư lệnh dở nhất”.

Một số người làm việc tốt nhất khi là thành viên trong một đội nhóm. Một số người khác làm việc tốt nhất khi được một mình. Một số người đặc biệt có tài năng trong vai trò huấn luyện viên hay người hướng dẫn, một số người khác thì không có năng lực hướng dẫn người khác.

Một câu hỏi quyết định khác nữa là Tôi tạo ra kết quả trong vai trò một người đưa ra quyết định hay là một người tư vấn? Có rất nhiều người thực hiện tốt công việc của một nhà tư vấn nhưng không thể đảm đương được gánh nặng và áp lực của việc đưa ra quyết định. Ngược lại, cũng có nhiều người cần một nhà tư vấn để buộc bản thân phải suy nghĩ, từ đó họ có thể đưa ra các quyết định và hành động dựa trên quyết định với tốc độ, sự tự  tin, và lòng can đảm.

Và đây cũng là lý do người số hai trong một tổ chức thường thất bại khi được đề bạt lên vị trí số một. Vị trí cao cần có những người đưa ra quyết định. Những người có khả năng đưa ra quyết định mạnh mẽ thường đưa những người mà họ tin tưởng vào vị trí số hai để làm những nhà tư vấn. Và các nhà tư vấn hoạt động xuất sắc trong vị trí này. Nhưng những người này lại thất bại trong vị trí của người số một. Họ biết được các quyết định nên như thế nào nhưng lại không thể nhận trách nhiệm về việc tự mình thực sự đưa ra quyết định.

Những câu hỏi quan trọng khác cần phải đặt ra bao gồm Tôi có thể thực hiện tốt khi chịu áp lực hay không, hay tôi có cần một môi trường có tính tổ chức cao và có thể dự đoán trước được hay không? Tôi làm việc tốt nhất trong một tổ chức lớn hay một tổ chức nhỏ? Có ít người có thể làm việc tốt trong tất cả các loại môi trường khác nhau. Tôi hay gặp những người rất thành công trong những tổ chức lớn nhưng lại tỏ ra lao đao khi phải chuyển qua những tổ chức nhỏ hơn và ngược lại.

Kết luận được rút ra là: đừng cố gắng để thay đổi bản thân bạn, bạn sẽ không thành công đâu. Thay vào đó hãy làm việc thật chăm chỉ để phát triển cách bạn làm việc. Và cố gắng đừng nhận những việc bạn không thể thực hiện hoặc thực hiện rất kém.

Giá trị của tôi là gì?

Để có thể quản trị bản thân, bạn phải hỏi Giá trị của tôi là gì? Đây không phải là một câu hỏi thuộc về vấn đề đạo đức. Các quy tắc trong đạo đức giống nhau cho tất cả mọi người, và thử nghiệm đạo đức cũng đơn giản. Tôi gọi đó là “thử nghiệm phản chiếu”.

Trong những năm đầu của thế kỉ trước (thế kỉ XX), nhà ngoại giao được tôn trọng nhiều nhất trong tất cả các nước lớn chính là ngài đại sứ Đức tại London. Rõ ràng ông được sinh ra để dành cho những điều vĩ đại – ít nhất là trở thành Bộ trưởng bộ ngoại giao, nếu như chưa nói đến chức Thủ tướng.  Tuy vậy, năm 1906 ông đột ngột từ chức chứ không chịu làm chủ tọa một buổi ăn tối được chuẩn bị bởi lực lượng ngoại giao cho vua Edward VII. Vị vua này khét tiếng là một người lăng nhăng với phụ nữ và đã nói rõ ra ý đồ muốn buổi tối được tổ chức theo ý vua. Người ta kể lại rằng ngài đại sứ đã nói: “Tôi từ chối nhìn một gã ma cô trong gương vào buổi sáng khi tôi cạo râu”.

Đó chính là thử nghiệm phản chiếu. Đạo đức đòi hỏi bạn phải tự hỏi chính mình Tôi muốn nhìn tôi là loại người nào trong gương vào buổi sáng? Những điều được cho là hành vi có đạo đức ở một loại tổ chức hay tình huống thì cũng là hành vi có đạo đức ở loại tổ chức hay tình huống khác. Nhưng đạo đức cũng chỉ là một phần của hệ thống giá trị, đặc biệt đối với hệ thống giá trị của một tổ chức.

Một người làm việc trong một tổ chức có hệ thống giá trị không thể chấp nhận được hoặc không phù hợp với hệ thống giá trị của người này sẽ dẫn đến sự thất vọng và hoạt động không có kết quả.
Hãy xem xét kinh nghiệm của một chuyên viên nhân sự rất thành công làm việc tại một công ty bị mua lại bởi một tổ chức khác lớn hơn. Sau vụ mua lại, cô này được đề bạt làm những việc cô làm tốt nhất, bao gồm cả việc tuyển chọn con người vào những vị trí quan trọng. Chuyên viên này hoàn toàn tin rằng một công ty chỉ nên tuyển người vào những vị trí như vậy từ bên ngoài nếu trong nội bộ công ty không thể tìm được người thích hợp. Nhưng công ty mới của cô lại tin rằng đầu tiên cần nên tìm người ở ngoài công ty để có thể mang lại làn gió mới cho công ty. Có nhiều điều cần phải bàn đến cho cả hai phương pháp, nhưng theo kinh nghiệm của tôi tốt hơn hết nên áp dụng cả hai. Cô này và công ty đã cơ bản không phù hợp với nhau về giá trị (chứ không phải về chính sách). Họ bày tỏ những quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa tổ chức và con người; quan điểm khác nhau về trách nhiệm của một tổ chức đối với con người của tổ chức và sự phát triển của họ; và quan điểm khác nhau về những đóng góp quan trọng nhất của cá nhân cho doanh nghiệp. Sau vài năm thất vọng, cuối cùng cô cũng rời khỏi công ty với một mức tổn thất đáng kể. Những giá trị của cô và những giá trị của tổ chức chỉ đơn giản là không phù hợp với nhau.

Tương tự như vậy, một công ty dược phẩm cố gắng để đạt được kết quả có thể bằng cách thực hiện các cải tiến nhỏ và liên tục hoặc bằng cách tạo ra một số ít các bước ngoặt với chi phí và rủi ro cao. Việc áp dụng phương pháp nào cơ bản không phải là một câu hỏi về kinh tế. Kết quả của cả hai chiến lược có thể rất giống nhau. Xét về bản chất, có sự xung đột giữa hệ thống giá trị coi sự đóng góp của công ty là giúp các bác sỹ thực hiện tốt hơn phần việc của mình và hệ thống giá trị hướng đến các khám phá khoa học.

Một doanh nghiệp nên hoạt động vì các kết quả ngắn hạn hay tập trung vào các mục tiêu dài hạn cũng là vấn đề giá trị. Các nhà phân tích tài chính tin rằng các doanh nghiệp có thể hoạt động phục vụ cho đồng thời cả hai mục tiêu. Những doanh nhân thành công hiểu biết về điều này tốt hơn. Để chắc chắn, mỗi công ty tạo ra được kết quả trong ngắn hạn. Nhưng trong mối xung đột giữa kết quả trong ngắn hạn và tăng trưởng trong dài hạn, mỗi công ty cần phải xác định thứ tự ưu tiên cho riêng mình. Điều này căn bản không phải là sự bất đồng về kinh tế học. Nó căn bản là một xung đột giá trị liên quan đến chức năng của một doanh nghiệp và trách nhiệm của ban quản trị.

Các xung đột giá trị không chỉ giới hạn trong các tổ chức kinh doanh. Một trong những nhà thờ miền quê tăng trưởng nhanh nhất nước Mỹ đánh giá thành công dựa vào số lượng giáo dân mới. Lãnh đạo nhà thờ này tin rằng số lượng người mới tham gia và giáo đoàn mới là điều quan trọng. Thiên Chúa sẽ chăm lo nhu cầu về tâm linh hay ít ra một phần vừa đủ nhu cầu tâm linh của họ. Một nhà thờ phúc âm miền quê khác lại tin rằng điều quan trọng phải là sự phát triển tâm linh. Nhà thờ này không tính những người đi nhà thờ nhưng không tham gia đời sống tâm linh.

Một lần nữa, đây không phải là vấn đề của các con số. Nếu chỉ nhìn sơ qua, dường như nhà thờ thứ hai tăng trưởng chậm hơn. Nhưng thực sự nó lại giữ chân được phần lớn hơn những người mới đến so với nhà thờ thứ nhất. Điều này có nghĩa là sự tăng trưởng của nó vững chắc hơn. Đây cũng không phải là vấn đề thứ yếu hay lý thuyết. Đây là vấn đề giá trị. Trong một lần tranh luận công khai, một mục sư cho rằng “Nếu đầu tiên bạn không đến nhà thờ thì bạn sẽ không bao giờ tìm thấy cánh cổng đi vào vương quốc của Thiên đường”.

Nhưng một mục sư khác lại không cho là như vậy, ông này nói “Cho đến khi bạn chưa nhìn thấy cánh cổng của Thiên đường thì bạn chưa thuộc về nhà thờ”.

Cũng giống như con người, các tổ chức cũng có giá trị. Để làm việc hiệu quả trong một tổ chức, giá trị của mỗi người phải phù hợp với giá trị của tổ chức. Không nhất thiết hai giá trị này phải hoàn toàn giống nhau nhưng chúng phải đủ gần gũi để có thể cùng tồn tại. Nếu không, người ta sẽ không những cảm thấy thất vọng mà còn chẳng tạo ra được kết quả gì cho tổ chức.

Các điểm mạnh của một người và cách người đó thực hiện hiếm khi mâu thuẫn với nhau, hai điều này là bổ sung cho nhau. Nhưng đôi lúc cũng có mâu thuẫn giữa giá trị và điểm mạnh của một người. Những gì một người làm tốt, thậm chí là rất tốt và thành công, có thể không phù hợp với hệ thống giá trị của người đó. Trong trường hợp này, công việc dường như không đáng để người này cống hiến cả đời (hay là một phần lớn của cuộc đời).

Cho phép tôi được kể một chút về cá nhân tôi. Cách đây nhiều năm, tôi phải quyết định lựa chọn giữa giá trị của mình và những việc tôi làm thành công. Tôi làm rất tốt trong vai trò của một nhân viên ngân hàng phụ trách đầu tư ở Luân Đôn vào giữa những năm 1930. Công việc này rất thích hợp với các điểm mạnh của tôi. Tuy nhiên, tôi lại thấy mình không có khả năng cống hiến ở vị trí giám đốc quản lý tài sản. Tôi nhận ra rằng, con người mới chính là điều mà tôi đánh giá cao, và tôi thấy thật là vô nghĩa để trở thành người giàu có nhất ở giữa nghĩa địa. Tôi đã không có tiền và không có triển vọng cho công việc. Mặc cho suy thoái kinh tế liên tục xảy ra, tôi đã xin nghỉ việc, và đó là một điều đúng đắn mà tôi đã làm. Nói theo cách khác, giá trị là và nên là thử nghiệm cao nhất.

Tôi thuộc về lĩnh vực nào?

Có rất ít người sớm biết được họ thuộc về lĩnh vực nào. Các nhà toán học, nhạc sĩ, hay đầu bếp thường biết mình là nhà toán học, nhạc sĩ, đầu bếp khi họ mới chỉ 4 hay 5 tuổi. Các bác sỹ thường quyết định nghề nghiệp ở độ tuổi từ 10 đến 20, nếu không muốn nói là có thể sớm hơn. Nhưng hầu hết tất cả mọi người, đặc biệt là những người có năng khiếu cao, thường không biết họ thực sự thuộc về lĩnh vực nào cho đến khi họ vượt qua độ tuổi 25. Vào thời điểm đó, họ nên biết được câu trả lời cho ba câu hỏi sau: Điểm mạnh của tôi là gì? Tôi thực hiện bằng cách nào? và Giá trị của tôi là gì? Và sau đó họ nên và có thể quyết định họ thuộc về lĩnh vực nào.

Hay đúng hơn, họ nên quyết định xem họ không thuộc về những lĩnh vực nào. Một người khi đã biết rằng mình không thể làm tốt trong một tổ chức lớn thì nên học cách từ chối những vị trí trong tổ chức lớn. Một người khi đã biết mình không phải là người ra quyết định thì nên học cách từ chối một nhiệm vụ cần đến việc ra quyết định. Một người như tướng Patton thì nên học cách để từ chối vị trí tư lệnh độc lập (có lẽ Patton cũng không tự nhận biết được điều này).

Quan trọng không kém, biết được câu trả lời cho những câu hỏi này sẽ giúp một người ứng xử được với một cơ hội, một lời đề nghị, hay một nhiệm vụ: “Vâng, tôi sẽ làm điều đó. Nhưng đây mới là cách mà tôi làm. Đây mới là cách mà nó nên được tổ chức. Đây mới là cách mà các mối quan hệ nên là. Đây mới là những kiểu kết quả mà anh nên kì vọng từ bản thân tôi trong khung thời gian như thế này, bởi vì điều này chính là tôi.”

Những sự nghiệp thành công không bao giờ được lên kế hoạch trước. Chúng được phát triển khi con người chuẩn bị cho cơ hội bởi vì họ biết được điểm mạnh, phương pháp làm việc và giá trị của mình. Việc biết được lĩnh vực mà một người thuộc về có thể giúp người này chuyển từ một con người bình thường (làm việc chăm chỉ và có năng lực nhưng vẫn bình thường) thành một con người nổi bật.

Tôi nên đóng góp những gì?

Trong quá khứ, đại đa số mọi người đều không đặt ra câu hỏi Tôi nên đóng góp những gì? Họ được chỉ bảo cần phải đóng góp những gì. Nhiệm vụ có thể được giao bởi chính bản thân công việc như đối với trường hợp người nông dân hay thợ thủ công, hay có thể được giao bởi những ông chủ hay bà chủ, như trong trường hợp của người giúp việc trong nhà. Cho tới những năm gần đây, hầu như ai cũng biết rằng hầu hết những người cấp dưới đều làm theo những gì họ được chỉ bảo. Ngay cả vào những năm 1950 và 1960, những người lao động trí thức mới (có thể gọi là những con người của tổ chức) vẫn còn nhờ vào bộ phận nhân sự trong công ty họ để đưa ra kế hoạch cho sự nghiệp của mình.
Nhưng đến cuối những năm 1960, không ai còn muốn được chỉ bảo những gì cần phải làm. Những người đàn ông và phụ nữ trẻ tuổi bắt đầu đặt câu hỏi Tôi  muốn làm gì? Và những gì họ nghe thấy được chính là: phương thức đóng góp chính là hãy làm những công việc của chính bạn. Nhưng giải pháp này cũng sai lầm giống như sai lầm của những người lao động trí thức mới. Có những người tin rằng mỗi người làm công việc của chính mình sẽ đưa đến kết quả đóng góp, tự hoàn thành công việc và thành công. Trong số những người này, có rất ít người đạt được thậm chí một trong ba điều đó.
Nhưng điều này cũng không có nghĩa là nên quay lại với cách làm cũ là làm theo những lời chỉ bảo hay những công việc được giao. Những người lao động trí thức nói riêng cần phải học cách đặt ra một câu hỏi mà trước đây chưa từng được đặt ra: Những đóng góp của tôi nên là gì? Để trả lời câu hỏi này, họ phải xem xét ba yếu tố riêng biệt: Vị trí của mình yêu cầu những gì? Với những điểm mạnh của mình, cách thực hiện của mình, và giá trị của mình, làm thế nào để tôi có thể đóng góp nhiều nhất cho những công việc cần phải làm? Và sau cùng, những kết quả nào cần phải đạt được để tạo ra sự khác biệt?

Hãy xem xét kinh nghiệm của một nhà quản trị bệnh viện vừa mới được bổ nhiệm. Đây là một bệnh viện lớn và uy tín, nhưng danh tiếng của nó đang xuống cấp dần trong 30 năm qua. Nhà quản trị mới đã quyết định rằng ông nên đóng góp thiết lập một tiêu chuẩn dịch vụ hoàn hảo trong một khu vực quan trọng trong vòng một năm. Ông đã chọn tập trung vào phòng cấp cứu. Đây là một phòng lớn, dễ nhìn và còn khá lộn xộn. Ông đưa ra quyết định rằng mỗi khi có bệnh nhân được đưa vào phòng cấp cứu thì trong vòng 60 giây phải có một y tá đủ trình độ đến chăm sóc. Trong vòng 12 tháng, phòng cấp cứu của bệnh viện này trở thành hình mẫu cho tất cả các bệnh viện trên nước Mỹ. Và sau 2 năm nữa, toàn bộ các bộ phận của bệnh viện đã được thay đổi.

Cũng như những điều rút ra được từ ví dụ trên, một kế hoạch nếu có tầm nhìn quá xa thì sẽ trở thành không thể. Một kế hoạch thường không thể vừa bao quát hơn 18 tháng mà vừa rõ ràng vừa cụ thể. Vì vậy, câu hỏi đặt ra trong đa số các trường hợp là Làm thế nào và ở đâu tôi có thể đạt được kết quả tạo ra sự khác biệt trong vòng một năm rưỡi tới? Câu trả lời là sự kết hợp của nhiều thứ. Đầu tiên, các kết quả đề ra nếu muốn đạt được cần phải có nhiều nỗ lực, hay các kết quả nên được “nới thêm ra”, theo cách nói thông thường. Nhưng kết quả cũng cần phải nằm trong tầm với. Vươn tới những kết quả không thể đạt được, hoặc có thể đạt được nhưng trong những hoàn cảnh khó xảy ra, không phải là thể hiện sự tham vọng, điều này chỉ thể hiện sự ngu ngốc. Thứ hai, các kết quả cần phải có ý nghĩa. Chúng nên tạo ra được một điều khác biệt. Cuối cùng, kết quả nên nhìn thấy được, và nếu có thể, nên đo lường được. Từ những điều này có thể đưa ra những quy tắc hành động: làm cái gì, xuất phát ở đâu và như thế nào, mục tiêu và giới hạn thời gian là gì.

Trách nhiệm đối với các mối quan hệ

Có rất ít người có thể tự làm việc và tự đạt được kết quả. Những người này bao gồm nhiều nghệ sỹ lớn, nhiều nhà khoa học lớn, và nhiều vận động viên lớn. Hầu hết mọi người làm việc với người khác và trở nên hiệu quả khi làm việc với người khác. Điều này đúng cho cả trường hợp họ là thành viên trong một tổ chức hay được thuê làm việc một cách độc lập. Quản trị bản thân đòi hỏi trách nhiệm đối với các mối quan hệ. Điều này có hai phần.

Phần thứ nhất là phải chấp nhận sự thật rằng cũng giống như bạn, mỗi con người là một cá nhân khác nhau. Họ luôn duy trì cư xử theo cách của họ. Điều này có nghĩa là họ cũng có những điểm mạnh riêng của họ, có cách làm việc riêng của họ, có những giá trị của riêng mình. Do đó, để làm việc hiệu quả, bạn cần phải biết được điểm mạnh, cách làm việc, và giá trị của đồng nghiệp của bạn.

Điều này xem ra có vẻ đơn giản, nhưng có ít người chú ý tới điều này. Một cách điển hình, nếu một người được huấn luận để viết báo cáo trong nhiệm vụ đầu tiên của mình thì bởi vì sếp của người này chính là một người đọc. Ngay cả nếu người sếp tiếp theo của người này là một người nghe mà người này vẫn tiếp tục viết báo cáo như trước thì kết cục sẽ không tạo ra được kết quả gì. Người sếp mới này sẽ nghĩ ngay là nhân viên này không có kiến thức, không có năng lực, lười biếng, và sớm muộn gì cũng sẽ thất bại. Nhưng điều này có thể tránh được nếu người nhân viên chịu quan sát sếp mới của mình và phân tích cách thực hiện của người này.

Người sếp không phải là một chức danh trong sơ đồ của một tổ chức và cũng không phải là một “chức năng”. Họ là những cá nhân và được phép làm việc theo cách mà họ làm tốt nhất. Phận sự của những người làm việc với họ là phải quan sát họ, tìm hiểu cách họ làm việc, và tự điều chỉnh để làm cho những người sếp có hiệu quả cao nhất. Thực sự, đây chính là bí mật của việc “quản lý” sếp của mình.

Điều này vẫn đúng khi áp dụng với tất cả đồng nghiệp của bạn. Mỗi người làm việc theo cách của họ chứ không phải cách của bạn. Và mỗi người được phép làm việc theo những cách của riêng họ. Điều quan trọng là họ thực hiện bằng cách nào và giá trị của họ là gì. Hầu như mỗi người đều có một cách thực hiện khác nhau. Điều bí mật đầu tiên của tính hiệu quả chính là hiểu được những người mà bạn làm việc chung hay phụ thuộc vào để từ đó có thể khai thác được những điểm mạnh của họ, cách họ làm việc, và giá trị của họ. Các mối quan hệ công việc dựa trên bản thân con người cũng nhiều như dựa trên chính bản thân công việc.

Phần thứ hai của trách nhiệm đối với các mối quan hệ chính là phải có trách nhiệm giao tiếp. Bất cứ khi nào tôi, hay bất cứ một nhà tư vấn nào khác, bắt đầu làm việc với một tổ chức, điều đầu tiên tôi nghe thấy là tất cả những mâu thuẫn tính cách cá nhân. Hầu hết những điều này phát sinh từ thực tế rằng người ta không biết những người khác đang làm gì và cách những người này làm việc, hoặc những đóng góp nào mà những người khác tập trung vào và họ kì vọng những kết quả nào. Và họ không biết những điều này bởi vì họ đã không hỏi, và do đó không nhận được câu trả lời.

Không nắm những thông tin cần thiết phản ánh sự ngớ ngẩn của con người hơn là phản ánh lịch sử con người. Mãi đến gần đây, người ta cảm thấy không cần thiết phải nói những điều này với người khác. Trong các thành phố thời trung cổ, mọi người trong một quận đều làm công việc buôn bán giống nhau. Ở các miền quê, trong cùng một thung lũng mọi người canh tác cùng một vụ mùa ngay sau khi lớp băng tuyết tan ở mặt đất tan ra hết. Ngay cả khi có vài người làm một mình những việc không giống với những người khác lắm thì họ cũng không kể cho người khác nghe họ đang làm gì.

Ngày nay đại đa số mọi người làm việc với những người khác, những người có những phận sự và trách nhiệm khác nhau. Một vị phó giám đốc marketing có thể  có thể xuất phát từ bán hàng và biết tất cả mọi thứ về bán hàng, nhưng cô ấy lại không biết điều gì về những điều mà cô ấy chưa bao giờ làm như định giá, quảng cáo, đóng gói, và những thứ như thế. Vì vậy, những người làm những phần này phải chắc chắn rằng vị phó giám đốc marketing của họ hiểu những gì họ đang cố gắng làm, tại sao họ lại cố gắng làm những điều đó, họ làm những điều đó bằng cách nào, và những kết quả được kì vọng là gì.

Nếu vị phó giám đốc marketing không hiểu những gì những chuyên viên với kiến thức sâu sắc này đang làm, căn bản đó là lỗi của họ, chứ không phải lỗi của cô ấy. Họ đã không chỉ cho cô ấy công việc của họ. Ngược lại, vị phó giám đốc marketing phải có trách nhiệm đảm bảo rằng tất cả những cộng sự của cô hiểu được cách cô nhìn nhận về marketing: các mục tiêu của cô là gì, cô làm việc như thế nào, cô kì vọng gì ở bản thân mình và ở từng người làm việc với cô.

Ngay cả những người nhận thức được tầm quan trọng của việc chịu trách nhiệm về các mối quan hệ thường không giao tiếp đầy đủ với những cộng sự của mình. Họ sợ mọi người sẽ nghĩ họ quá tự tin, tò mò hay ngu ngốc. Họ đã sai. Bất cứ khi nào một người đến chỗ làm việc của cộng sự của mình và nói rằng “Đây là những thế mạnh  của tôi. Đây là cách tôi làm việc. Đây là những giá trị của tôi. Đây là những đóng góp mà tôi lên kế hoạch tập trung vào, và đây là những kết quả mà tôi được kì vọng sẽ đạt được”, câu trả lời sẽ luôn như thế này “Đây là điều hữu ích nhất. Nhưng tại sao anh lại không nói điều đó sớm hơn nhỉ?”.

Và một người sẽ nhận được cùng một cách phản ứng (không có ngoại lệ nào cả theo kinh nghiệm của tôi) nếu người này tiếp tục hỏi “Và tôi cần phải làm gì để biết những điểm mạnh của anh, cách anh làm việc, giá trị của anh, và những đóng góp được đề xuất?”. Thực tế, người lao động tri thức nên đặt câu hỏi này với tất cả những người họ làm việc với, bao gồm cả những người cấp dưới, cấp trên, bạn đồng nghiệp, hay là một người trong nhóm làm việc. Một lần nữa, mỗi khi bạn đặt ra câu hỏi này, phản ứng sẽ luôn luôn là “Cảm ơn vì đã hỏi tôi. Nhưng tại sao anh không hỏi tôi sớm hơn nhỉ?”.

Các tổ chức ngày nay không còn được xây dựng dựa trên quyền lực hay sự tin tưởng nữa. Tồn tại sự tin tưởng giữa mọi người không nhất thiết có nghĩa là họ thích nhau. Điều đó chỉ có nghĩa là họ hiểu nhau. Vì vậy, chịu trách nhiệm về các mối quan hệ là một điều rất cần thiết. Nó là một trách nhiệm. Cho dù ta là thành viên của một tổ chức, hay là một nhà tư vấn của tổ chức, một nhà cung cấp, hay là một nhà phân phối, ta cần phải chịu trách nhiệm đối với các cộng sự của mình: những người mà ta phụ thuộc vào công việc của họ cũng như họ phụ thuộc vào công việc của ta.

Nửa kia của cuộc đời

Khi công việc đối với nhiều người chỉ có nghĩa là lao động chân tay thì không cần thiết phải lo lắng về nửa kia của cuộc đời. Đơn giản bạn chỉ cần tiếp tục làm những việc bạn đã luôn làm. Và nếu bạn có đủ may mắn để tồn tại sau 40 năm làm việc chăm chỉ trong nhà máy hoặc đường sắt, bạn sẽ thấy hạnh phúc dành nửa đời còn lại không làm gì cả. Tuy nhiên, ngày nay hầu hết công việc đều là công việc đòi hỏi trí thức, và người lao động trí thức không “kết thúc” sau 40 năm làm việc, họ chỉ cảm thấy chán mà thôi.

Chúng ta đã nghe nhiều các câu chuyện về sự khủng hoảng ở giữa cuộc đời của các nhà quản trị. Hầu hết chúng đều là sự nhàm chán. Ở độ tuổi 45, hầu hết các nhà quản trị đều đã lên tới đỉnh cao trong sự nghiệp kinh doanh của mình, và họ biết điều đó. Sau 20 năm làm cùng một loại công việc, họ trở nên rất giỏi trong công việc của mình. Nhưng bây giờ thì họ không học hỏi được gì, hay đóng góp, hay nhận được thử thách và sự thỏa mãn từ công việc. Và họ vẫn đối mặt với 20 hay 25 năm làm việc nữa. Đó là lý do tại sao quản trị bản thân ngày càng hướng ta đến vệc bắt đầu một sự nghiệp thứ hai.

Có ba cách để phát triển một sự nghiệp thứ hai. Cách thứ nhất đơn giản là bắt đầu một sự nghiệp khác. Thông thường thì việc này đơn giản chỉ là chuyển từ kiểu tổ chức này sang kiểu tổ chức khác. Chẳng hạn, một nhân viên kiểm soát bộ phận trong một tổ chức lớn trở thành nhân viên kiểm soát trong một bệnh viện cỡ vừa. Nhưng càng ngày càng có nhiều người chuyển sang các công việc hoàn toàn mới: ví dụ, có những nhà quản trị kinh doanh hay nhân viên chính phủ tham gia vào các bộ ở tuổi 45, hay có những giám đốc cấp trung rời khỏi công ty sau 20 năm làm việc để nộp đơn vào học ở một trường luật và trở thành luật sư ở một thị trấn nhỏ.

Chúng ta sẽ chứng kiến nhiều người chuyển qua sự nghiệp thứ hai bởi vì họ chỉ thành công khiêm tốn trong công việc đầu tiên. Những người này đã được trang bị đầy đủ các kĩ năng và họ đã biết cách làm việc. Họ cần một cộng đồng (ngôi nhà sẽ trở nên trống rỗng nếu bọn trẻ đi hết ra ngoài) và họ cũng cần có thu nhập. Nhưng quan trọng hơn cả, họ cần có thách thức.

Cách thứ hai để chuẩn bị cho nửa sau của cuộc đời là phát triển song song một sự nghiệp khác. Có nhiều người đã rất thành công trong sự nghiệp thứ nhất của mình vẫn tiếp tục làm những việc mình đã làm, có thể là toàn thời gian, bán thời gian hay đóng vai trò tư vấn. Nhưng thêm vào đó, họ tạo thêm một sự nghiệp thứ hai, thông thường là trong một tổ chức phi lợi nhuận. Công việc này có thể chiếm thêm 10 tiếng làm việc mỗi tuần. Chẳng hạn, họ có thể tham gia vào công việc quản  trị của nhà thờ, hoặc lãnh đạo hội đồng Hướng đạo sinh dành cho nữ ở địa phương. Họ có thể tạo ra chỗ nương náu cho phụ nữ bị ngược đãi, làm thủ thư trong một thư viện công cộng dành cho trẻ em, hay tham gia vào hội đồng của một trường học,…

Và sau cùng, đó là các doanh nhân hoạt động xã hội. Thông thường đây là những người đã rất thành công trong sự nghiệp thứ nhất của mình. Họ yêu công việc của mình, nhưng không còn cảm thấy thử thách với công việc đó. Trong đa số các trường hợp, họ vẫn làm những gì họ đã làm nhưng với thời gian ngày càng ít đi. Họ cũng khởi động những hoạt động mới, thông thường là những hoạt động phi lợi nhuận. Một người bạn của tôi là Bob Buford là một ví dụ. Anh ấy đã xây dựng được một công ty truyền hình rất thành công và bây giờ vẫn còn điều hành nó. Nhưng anh cũng đã thành lập và xây dựng một tổ chức phi lợi nhuận thành công khác. Tổ chức này làm việc với các nhà thờ đạo tin lành. Và anh ấy cũng xây dựng một tổ chức khác nhằm giảng dạy cho các doanh nhân hoạt động xã hội cách quản lý các tổ chức phi lợi nhuận của họ trong khi vẫn điều hành những hoạt động kinh doanh đầu tiên của họ.

Chỉ có thiểu số người quản lý nửa sau của cuộc đời. Đa số mọi người “nghỉ hưu trong lúc đang làm việc” và đếm từng năm cho đến khi họ thực sự được nghỉ hưu. Nhưng thiểu số những người nhìn nhận thời gian làm việc trong đời dài hơn như là một cơ hội cho chính họ và cho xã hội sẽ trở thành những nhà lãnh đạo và những hình mẫu.

Có một điều kiện tiên quyết trong việc quản trị nửa thứ hai của cuộc đời bạn: bạn phải bắt đầu rất sớm trước khi bạn tham gia. Cách đây 30 năm, thời gian làm việc trong đời được gia tăng rất nhanh. Rất nhiều người quan sát (trong đó có cả tôi) tin rằng những người nghỉ hưu sẽ tham gia ngày càng nhiều vào các tổ chức phi lợi nhuận với vai trò những tình nguyện viên. Nhưng điều này đã không xảy ra. Nếu một người không trở thành tình nguyện viên trước khoảng 40 tuổi thì người đó cũng sẽ không trở thành tình nguyện viên khi vượt qua tuổi 60.

Tương tự như vậy, tất cả các doanh nhân hoạt động xã hội mà tôi biết đều bắt đầu làm việc trong tổ chức thứ hai của mình rất sớm trước khi họ vươn tới được đỉnh cao trong công việc kinh doanh đầu tiên. Hãy xem xét trường hợp của một luật sư thành công. Ông này là luật sư tư vấn của một tập đoàn lớn. Gần đây ông cũng đã thành lập nhiều trường học kiểu mẫu trong bang của ông. Trước đây, ông bắt đầu làm công tác tình nguyện về luật cho các trường học khi mới chỉ khoảng 35 tuổi. Lúc 40 tuổi thì ông được bầu vào Ban giám hiệu. Đến lúc 50 tuổi, khi đã kiếm được cả một gia tài, ông khởi động công ty của chính ông nhằm xây dựng và điều hành những trường học kiểu mẫu. Tuy nhiên, ông vẫn làm việc hầu như là toàn thời gian trong vai trò lãnh đạo tư vấn tại công ty mà ông đã làm kể từ lúc còn là một luật sư trẻ tuổi.

Có một lý do khác để phát triển một mối quan tâm lớn thứ hai và phát triển nó sớm. Chẳng ai có thể kì vọng rằng mình sẽ sống rất lâu mà không phải trải qua những đợt thoái trào nghiêm trọng trong cuộc sống cũng như trong công việc. Có những kĩ sư có năng lực nhưng không được thăng tiến ở tuổi 45. Có những giáo sư đại học có năng lực nhưng nhận ra rằng ở độ tuổi 42 mình không thể trở thành giáo sư của một truờng đại học lớn, ngay cả khi người này hoàn toàn có đủ năng lực. Có những bi kịch cho đời sống gia đình: sự tan rã của một cuộc hôn nhân hay sự mất mát của một đứa trẻ. Trong những trường hợp như vậy, một mối quan tâm thứ hai (không đơn giản là một sở thích) sẽ tạo ra sự khác biệt rất lớn. Chẳng hạn, người kĩ sư bây giờ đã nhận ra rằng mình không thành công lắm trong công việc. Nhưng trong các hoạt động bên ngoài, một thủ quỹ cho nhà thờ chẳng hạn, anh ta lại là một người thành công. Một gia đình có thể tan vỡ, nhưng thông qua các hoạt động bên ngoài, vẫn còn đó cả một cộng đồng.

Trong một xã hội mà thành công trở thành một điều vô cũng quan trọng, việc có các lựa chọn khác nhau càng ngày càng trở nên thiết yếu. Trong lịch sử, không có cái gì được gọi là “thành công” cả. Hầu hết tất cả mọi người không mong cầu điều gì ngoại trừ “ở đúng vào vị trí của mình”, như lời nguyện cầu của một người Anh già nua. Sự lưu chuyển duy nhất là sự lưu chuyển đi xuống.

Tuy nhiên, trong xã hội tri thức, chúng ta mong muốn mỗi người ai cũng thành công. Nhưng rõ ràng điều này là không thể. Đối với rất nhiều người, tốt nhất là không nên có thất bại. Nhưng bất cứ chỗ nào có thành công thì chỗ đó cũng phải có thất bại. Do đó, các cá nhân và gia đình của các cá nhân này nữa cần thiết phải có một lĩnh vực mà họ có thể cống hiến, tạo ra sự khác biệt, và để được trở thành một ai đó. Điều đó có nghĩa là phải tìm kiếm một lĩnh vực thứ hai (tạo dựng một sự nghiệp thứ hai, một sự nghiệp song song, hay trở thành một doanh nhân hoạt động xã hội) để có cơ hội được trở thành lãnh đạo, được tôn trọng và được thành công.

Những thử thách của quản trị bản thân khá rõ ràng, nếu như không muốn nói là sơ đẳng. Và câu trả lời đã trở nên quá rõ ràng, không thể giả bộ ngây thơ không biết được. Nhưng quản trị bản thân cần đến những điều mới mẻ và chưa từng xảy ra từ cá nhân, và đặc biệt từ người lao động tri thức. Trên thực tế, quản trị bản thân đòi hỏi mỗi người lao động trí thức phải suy nghĩ và cư xử như một giám đốc điều hành. Thêm nữa, sự chuyển đổi từ những người lao động chân tay làm những gì họ được chỉ bảo sang những người lao động trí thức tự quản trị bản thân mình thách thức một cách sâu sắc trong cấu trúc của xã hội. Trong tiềm thức của mỗi xã hội, cho dù là trong xã hội đề cao cá nhân nhiều nhất, có hai điều dường như là hiển nhiên: các tổ chức sống lâu hơn người lao động và hầu hết mọi người đều ở trong một vị trí cố định. Nhưng điều ngược lại mới đúng trong xã hội ngày nay. Những người lao động trí thức sống lâu hơn các tổ chức, và họ sống rất lưu động. Do đó, nhu cầu quản trị cá nhân đang tạo nên một cuộc cách mạng trong đời sống con người.

Peter F. Drucker(Phạm Phước dịch)